Truy cập

Hôm nay:
32
Hôm qua:
164
Tuần này:
196
Tháng này:
1105
Tất cả:
80083

Cộng đồng dân cư.

Ngày 11/09/2019 09:30:05

Thị trấn Vạn Hà là một vùng đất cổ, không một tài liệu nào nói về thời gian thành lập của các làng trong thị trấn nhưng theo truyền thuyết và các công trình kiến trúc đền, chùa, nghè còn hiện diện trong làng thì ngay từ thời An Dương Vương, có ông Cao Lỗ - một tướng tài của An Dương Vương - do bất đồng về việc khuyên vua không gả Mị Châu cho Trọng Thủy đã từ quan về ở ẩn. Sau khi từ quan, ông đã đi vào phía nam khai khẩn đất đai. Đến vùng Vạn ven bờ sông Lường thấy cây cối tốt tươi, đất đai màu mỡ… ông bèn dừng chân lập trại, khai phá đất đai. Sau khi đã gây dựng được cơ sở để phát triển sản xuất, lập làng, ấp, ông bèn để lại 7 người gia binh để tiếp tục phát triển trang ấp, săn bắn, trồng trọt… còn mình thì tiếp tục vân du vào phía nam. Do vậy, ở văn sắc đình làng Kiến Trung (nay là Kiến Hưng) có ghi “Vãn Hà phường duy hữu thất nhân” (phường Vãn Hà chỉ có 7 người lúc ban đầu).

Ở Vạn Hà và nhiều địa phương khác, những nơi ông Cao Lỗ đến khai khẩn đất đai - đều lập đền thờ ông và tôn ông làm Thần Hoàng. Nghè 3 xã ở khu đất chợ Vạn (làng Kiến Hưng bây giờ) chính là nơi thờ ông Cao Lỗ (vì kiêng tên gọi Thần Hoàng nên nhân dân địa phương tránh gọi từ “lỗ”, thay bằng từ “hốc”). Phường Vãn Hà có thời còn được gọi là phường Vạn Phúc, nơi đây còn lưu truyền câu ca:

Chàng về Vạn, Vạc chàng ơi

Con chàng bỏ đói ai nuôi cho chàng

Từ lúc sơ khai, ngoài 3 làng Vạn cũ, sau này còn có làng Vĩnh Điện (còn gọi là làng Vạn Đền). Làng Vạn có nhiều ao hồ, cây sen mọc đầy, hoa lá xanh tươi, xanh ngắt 4 mùa. Về sau, dân số phát triển đông đúc, làng Vạn tách ra thành 3 thôn: thôn Kính Thượng (ở phía trên), có thời còn gọi là Kính Cẩn (nay là Trí Cẩn), thôn Kiến Trung (ở giữa) (nay là Kiến Hưng) và thôn Đông Triều (phía Đông), có thời còn gọi là Đông Minh và Đông Dương (nay là Dương Hòa).

Làng Trí Cẩn

Căn cứ vào tộc phả họ Lê thì sau khi dân số đông phường Vãn Hà chia ra làm 3 thôn, trong đó có thôn Kính Thượng (theo truyền thuyết ngay từ đời Vĩnh Khánh thứ 3 (thời hậu Lê - 1731), làng đã có tên là Kính Thượng). Đến thời Nguyễn, đời vua Minh Mệnh thứ nhất (1820), làng đổi tên là Trí Cẩn. Cho đến nay, làng có 19 dòng họ, đó là họ Lê (6 họ), Nguyễn (7 họ Nguyễn), Trần (3 họ), Trịnh (1 họ), Hoàng (1 họ), Đỗ (1 họ). Thuở ban đầu, mới là một xóm nhỏ ven sông Chu, trải qua thời gian, từ đời này sang đời khác, các dòng họ cùng nhau chung sống, xây dựng nên một làng quê phồn thịnh, sung túc.

Ngày nay, phía đông làng Trí Cẩn giáp làng Kiến Hưng, phía nam giáp đê sông Chu, phía bắc giáp làng Đỉnh Tân (xã Thiệu Phú), phía tây giáp làng Mật Thôn (xã Thiệu Phúc).

Trước Cách mạng tháng 8-1945, làng có khoảng 200 hộ với 800 nhân khẩu, từ sau cách mạng đến nay, dân số trong làng tăng nhanh do điều kiện sống được cải thiện. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, làng có một số hộ tình nguyện đi xây dựng vùng kinh tế, cụ thể: đến xã Thiệu Công là 31 hộ, đến xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc là 29 hộ, xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân là 37 hộ.

Thời Pháp thuộc, kinh tế thấp kém, người dân thường ở trong nhà tranh tre, nứa lá, cơm ăn ngày 2 bữa độn ngô, khoai, sắn. Đường làng ngõ xóm nhỏ hẹp, lầy lội, cả làng không có giếng nước, ăn uống, sinh hoạt người dân đều dùng nước sông Chu.

Dân làng Trí Cẩn sống bằng nông nghiệp, 1 năm 2 vụ lúa chiêm mùa. Vụ mùa trồng lúa, vụ chiêm trồng ít lúa nhiều màu (bông, cà, mía, dưa chuột, củ đậu…). Vào những lúc nông nhàn, người dân làm thêm một số nghề phụ như nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải, hàng sáo, hàng xén, làm bánh đa, thợ mộc, dạy học, bốc thuốc…

Tuy đời sống khó khăn nhưng người dân Trí Cẩn vẫn chuyên cần hiếu học và học giỏi. Có nhiều người đỗ đạt và làm quan to, tiêu biểu là ông Nguyễn Quang Minh, đậu Tiến sỹ thời Hậu Lê, ông làm quan đến chức Tả Thị Lang Bộ Lại. Ông có công giúp dân vượt qua cơn hoạn nạn nên khi mất được dân Phù Lỗ (Đông Anh, Hà Nội) lập thờ làm phúc thần và có đôi câu đối ca ngợi ông:

Vãn Hà bất một cao danh bảng

Phù Lỗ phục sinh đại phúc thần

Thời Pháp thuộc, đa số dân làng thất học, chỉ có một số ít người được đi học nhưng cũng đậu bằng Sơ học yếu lược, tiêu biểu là các ông Lê Thiện Phẩm, Lê Văn Mươi, Lê Xuân Sênh, Lê Xuân Nhị… Đậu bằng Prime có các ông Lê Văn Hinh, Lê Văn Hiệp, Lê Văn Cát, Lê Xuân Huyên… Đậu Điplôm có các ông Lê Văn Hiệp, Lê Xuân Thơm.

Dân cư Trí Cẩn hầu hết lấy tục thờ cúng tổ tiên làm tín ngưỡng chính. Ngoài ra, người dân còn thờ cúng người thành lập làng và các anh hùng dân tộc, các vị thần theo tín ngưỡng dân gian. Điều đó thể hiện qua các công trình văn hóa đình, chùa, nghè… từng hiện diện trong làng.

Các tục lệ cưới xin, ma chay đều diễn ra theo quy định của lệ làng: cưới vợ phải có giấy giá thú do hương bạ cấp. Lễ cưới diễn ra theo các tục lệ nạp “cheo” cho làng, làm lễ rước dâu, lễ tơ hồng, lễ lại mặt… Ngày Tết có tục lệ đến nhà nhau chúc Tết mở hàng, mừng tuổi người già và trẻ nhỏ…

Hàng năm, vào ngày 7 tháng Giêng (âm lịch) dân làng tổ chức tế Thần hoàng ở đình làng. Ông chủ tế được dân làng cử ra cùng 2 ông phụ tế để xướng đông, xướng tây. Trong lễ hội, ngoài chiêng trống còn có phường bát âm phục vụ. Lễ hội mang lại những phút giây thư giãn sau những ngày lam lũ, đồng thời cũng là dịp quyên góp để xây dựng một công trình văn hóa nào đó…

Ngày 22-2 và ngày 16-8 (âm lịch) hàng năm, làng tổ chức hội “rước bóng”. Trong phần lễ, có các hoạt động rước kiệu bát cống, kiệu long đình diễn ra rất trang nghiêm, sau đó đến phần hội với các tiết mục hát chầu văn và các trò chơi dân gian, thu hút đông đảo người dân tham gia.

Cũng giống như các làng khác trong thị trấn Vạn Hà, dân làng Trí Cẩn cũng thờ Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ làm Thần Hoàng làng trong đình. Đình cũng là nơi hội họp để chức sắc bàn việc làng và là nơi vui chơi giải trí mùa lễ hội.

Chùa làng Trí Cẩn được xây dựng tại đồng Dưa, tuy quy mô nhỏ nhưng mang dáng dấp của một ngôi chùa cổ. Bên cạnh chùa có gốc cáo cổ thụ. Vào ngày rằm và mùng 1, dân làng đến thắp hương và cúng bái rất đông.

Ngoài đình, chùa, làng Trí Cẩn còn có phủ, nghè, Văn chỉ, Võ chỉ, điếm… điều đó thể hiện nét đặc trưng trong sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân làng Trí Cẩn.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, dân làng Trí Cẩn hăng hái đi theo tiếng gọi của Đảng, đứng lên làm cách mạng, cầm súng đánh giặc giữ nước, giữ bình yên thôn làng.

Hòa bình lập lại, nhân dân làng Trí Cẩn lại bắt tay vào khôi phục và phát triển kinh tế theo đường lối của Đảng, đời sống ngày một nâng cao, quê hương ngày thêm đổi mới, giàu đẹp.

Ngày 25-12-2000 làng Trí Cẩn long trọng tổ chức lễ khai trương xây dựng làng văn hóa. Năm 2005, làng Trí Cẩn vinh dự được công nhận danh hiệu Làng Văn hóa cấp huyện. Ngày 9-12-2003 làng Trí Cẩn khởi công xây dựng lại đình làng, đến ngày 2-9-2004 đình làng được khánh thành. Tổng kinh phí xây dựng 315 triệu đồng. Trong đó nhân dân đóng góp 204 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 97 triệu đồng, hợp tác xã dịch vụ và nông nghiệp Thiệu Hưng hỗ trợ 14 triệu đồng.

Làng Kiến Hưng

Làng Kiến Hưng được tách ra từ phường Vãn Hà. Từ ban đầu đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có tên gọi là làng Kiến Trung, từ đầu năm 1946, khi xã Vãn Hà được thành lập thì làng Kiến Trung được đổi tên là làng Kiến Hưng cho đến ngày nay. Làng Kiến Hưng nằm giữa hai làng Dương Hòa và Trí Cẩn. Đây là vùng đất tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho giao thông, trồng trọt, có đường mòn xuyên qua giữa làng theo hướng bắc - nam (nay là Quốc lộ 45), có chợ, có bến sông, bến đò, có nghè ba xã.

Ngày nay, phía tây làng Kiến Hưng giáp làng Trí Cẩn, phía đông giáp làng Dương Hòa, phía nam giáp sông Chu, phía bắc giáp làng Vĩnh Điện (xã Thiệu Phú).

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, làng có tên gọi là Kiến Trung, thuộc tổng Mật Vật, phủ Thiệu Hóa. Làng có 9 dòng họ (họ Lê là lớn nhất) cùng nhau sinh sống thuận hòa, tương thân tương ái, dưới sự quản lý của hội đồng lý hương.

Trên đất làng, các công trình văn hóa như đình, nghè, chùa… được xây dựng, phản ánh đời sống tâm linh rất phong phú của cư dân vùng này.

Nghè thờ Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ (nghè xây trên đất chợ Vạn bây giờ), tương truyền đây là nơi đầu tiên Linh Quang Đại Vương đặt chân nghỉ lại. Sau khi Cao Lỗ mất đi, tưởng nhớ công ơn của Ngài dân làng xây dựng nghè để thờ vị. Không rõ nghè được xây dựng khi nào nhưng dấu ấn trùng tu cuối cùng vào năm 1810. Nghè được thiết kế theo hình chữ “Nhị”, bao gồm 3 gian chính tẩm, 5 gian tiền đường. Sân nghè rất rộng, phía trước có cổng tam quan, kiến trúc cầu kỳ. Phía tây bắc nghè là hai cây đa cổ thụ, tán rộng, tỏa bóng xum xuê, tạo cho nghè cảnh quan uy nghi, trầm mặc.

Đình làng cũng không rõ thời gian xây dựng. Đình thờ Thần Hoàng làng là Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ, có kiến trúc đồ sộ với những cột đình rất to. Đình cũng được thiết kế theo hình chữ “Nhị”, bên trong là chính tẩm, bên ngoài là tiền đường rộng rãi làm nơi hành lễ. Phía hữu đình là nơi làm việc của Hội đồng hương lý và 1 cồn đình rộng - nơi diễn ra các hoạt động thể thao, văn nghệ của dân làng, phía tả là nơi để trống làng, kiệu cờ, lộng, giáo kích... Ngày 15-11-2002, đình làng được khởi công xây dựng lại và hoàn thành vào ngày 6-8-2003. Tổng kinh phí xây dựng 274 triệu đồng, trong đó nhân dân đóng góp 152 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 88 triệu đồng và Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hỗ trợ 34 triệu đồng.

Chùa làng Kiến Hưng tọa lạc ngay phía sau đình làng, bước qua cổng hậu đình. Chùa có tháp chuông chồng lên cổng chùa, chuông to và rất nặng.

Văn chỉ nối liền với chùa, là nơi họp thường lệ của làng văn. Văn chỉ gồm 2 nhà, nhà ngoài 4 gian để trống làm nơi hội họp, nhà trong để bàn nhang. Võ chỉ được xây dựng rất uy nghi, có tường rào bao bọc dùng để thờ các vị tướng và là nơi sinh hoạt của làng binh.

Miếu nhà thánh thờ những người học vấn cao trong làng. Miếu gồm một nhà 3 gian, gỗ lim lợp ngói, có một bia đá lớn khắc chữ 2 mặt…

Mùng 7 tết làng tổ chức lễ tế Thần hoàng ở ngoài đình. Chủ tế, phụ tế do Hội đồng lý hương cử ra. Ngày tế Thần hoàng, từ cổng đình đến các đường làng, cờ lộng dăng dăng, dân làng nhộn nhịp, chiêng chống, bát âm rền vang. Sau phần nghi lễ, dân làng đốt pháo ăn mừng, chia phần xôi thịt cho tất cả những ai đã vào làng. Cũng trong dịp này, trai làng đến 18 tuổi soạn lễ ăn xin làng, những người ăn xin làng cùng năm gọi là đồng niên.

Trong mỗi dòng họ đều có nhà thờ họ. Nhân dịp năm mới, sau khi cúng lễ gia tiên tại nhà, mọi người thường đến nhà thờ họ thắp hương để nhớ về nguồn cội. Đây là một nét đẹp mà người dân Kiến Hưng luôn phát huy.

Dân làng Kiến Hưng sống chủ yếu bằng nông nghiệp, trước Cách mạng tháng 8-1945, mỗi năm cấy được 1 vụ không ăn chắc do phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Những nơi không cấy được có trồng lúa lốc, năng suất thấp, có nơi cấy được lúa chiêm (giữa dù) là nơi thấp trũng nhất của đồng Kếch. Ngoài ra, người dân còn trồng thêm hoa màu như bông, lạc, ngô, khoai… Lúc nông nhàn thì ươm tơ dệt lụa và làm các nghề khác để nâng cao đời sống.

Tuy cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng dân làng Kiến Hưng vẫn phát huy truyền thống của một vùng quê nghèo hiếu học, có nhiều người đỗ đạt cao như cụ Ngô Xuân Nhàn, cụ đỗ đầu thi Hương thời Tự Đức (năm thứ 16), được bổ làm quan tại Bắc Ninh, cụ Phạm Huy Cứ (ông tổ họ Phạm) - đời Cảnh Hưng được phong Tráng liệt Tướng quân, sau đó được phong Phấn liệt Tướng quân; cụ Lê Công Thụy (ông tổ họ Lê) được bổ nhiệm làm Tri huyện Thiên Bản; cụ Hoàng Hữu Đạo (ông tổ họ Hoàng) - thời Hậu Lê được tặng danh hiệu Đệ nhất hạng chi thần chủ… Các cụ kể trên hiện còn sắc phong tại nhà thờ họ của các dòng họ.

Thực dân Pháp xâm lược nước ta và thi hành chính sách ngu dân, mở trường học ít hơn nhà tù. Tuy nhiên, làng vẫn có người theo học và thi đậu tương đương cấp Tiểu học, lớp 9 bây giờ.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân làng Kiến Hưng không tiếc sức mình, đóng góp sức người, sức của để giành độc lập cho dân tộc cho mình, cùng dựng xây quê hương ngày thêm giàu đẹp.

Thực hiện chủ trương của Đảng về định cư phát triển kinh tế, năm 1963 làng đã vận động được 75 hộ đi định cư gồm: thôn Hưng Long (xã Thiệu Long) có 42 hộ, Thành Giang (xã Thiệu Thành) có 24 hộ, xã Ngọc Phụng (huyện Thường Xuân) có 11 hộ.

Ngày 22-4-2002, Kiến Hưng long trọng tổ chức lễ khai trương xây dựng làng văn hóa. Năm 2004, Kiến Hưng vinh dự được nhận danh hiệu Làng văn hóa cấp huyện.

Làng Dương Hòa

Sau khi tách ra từ phường Vãn Hà, thôn Đông Triều được đổi là thôn Đông Minh. Đến thời Minh Mệnh lại đổi tên thành thôn Đông Dương. Cách mạng tháng 8-1945 thành công, lại được đổi thành thôn Dương Hòa và giữ tên gọi đó cho đến nay.

Ngày nay, phía đông làng giáp xã Thiệu Nguyên, phía tây giáp làng Kiến Hưng, phía nam giáp đê sông Chu, phía Bắc giáp làng Vĩnh Điện (xã Thiệu Phú). Trong làng, có hồ nước ngọt Thiên Trụ rộng 7 mẫu, được hình thành tự nhiên, tạo cho làng cảnh quan kỳ thú, sơn thủy hữu tình. Dân làng đã khai thác tiềm năng mặt nước hồ (trồng rau) và nuôi thả cá. Hồ Thiên Trụ không những mang lại nguồn lợi kinh tế lớn mà còn đi vào trong tâm trí mỗi người dân nơi đây.

Thời xa xưa, nhân dân nơi đây cùng chịu chung cảnh bị đọa đày, áp bức. Không chịu cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân đã hưởng ứng ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung. Vượt lên trên tất cả, con em Dương Hòa vẫn vượt khó học giỏi, thi cử đỗ đạt cao, làm quan trong triều, tiêu biểu như các danh nhân Nguyễn Quán Nho, Trịnh Cao Đệ, Lê Văn Bình (đỗ Trạng nguyên), Ngọ Phúc Thành, Ngọ Thuận Chất, Ngọ Phúc Toàn, Lê Văn Bi (đỗ Cử nhân)… Trong đó, nổi tiếng nhất là tể tướng Nguyễn Quán Nho (1638-1708), ngày 12-8-1993, Nhà thờ cùng với khu mộ của ông đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân làng Dương Hòa đã đi theo các cuộc khởi nghĩa, giành tự do, giành cuộc sống cho mình. Tiêu biểu như các ông: Nguyễn Quán Huệ (cháu đời thứ 9 của tể tướng Nguyễn Quán Nho) tham gia phong trào Văn thân, ông Đào Văn Kiểm - tham gia cuộc khởi nghĩa, ông phụ trách quân lương ở 3 huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa và Bá Thước…

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đánh dấu một mốc son chói lọi trong phong trào giải phóng dân tộc. Nhân dân làng Dương Hòa hăng hái đi theo tiếng gọi của Đảng, làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại và tiếp bước vào cuộc trường chinh 9 năm kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1946-1954). Tiếp đó, nhân dân Dương Hòa lại hăng hái vừa sản xuất phát triển kinh tế, xây dựng quê hương, vừa góp sức cùng nhân dân miền Nam đánh tan giặc Mỹ xâm lược (1954-1975). Trong giai đoạn đấu tranh đầy gian khổ đó, nhân dân Dương Hòa đã tham gia nhiều phong trào sản xuất, tiêu biểu như vận động nhân dân đi xây dựng kinh tế mới (trong phong trào này, thôn đã vận động được 55 hộ, 31 hộ đến Đông Hòa Thiệu Duy và 24 hộ đến Ngọc Phụng Thường Xuân)...

Cũng giống như đa số làng quê khác, Dương Hòa cũng xây dựng một ngôi đình cổ (năm 1882) để dân làng hội họp vào các dịp lễ, tết. Đình làng Dương Hòa thờ Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ. Ngoài đình, làng Dương Hòa còn có một ngôi nghè, được xây dựng cùng thời điểm với ngôi đình, thờ thủy thần “Long Quy Đại Vương”. Năm 1932, dân làng đóng góp tiền của và công sức để xây dựng 1 ngôi phủ đường thờ đức Thánh mẫu “Liễu Hạnh công chúa”. Phủ đường gồm 3 gian võ chỉ quay hướng tây nam để thờ các võ tướng do làng binh chủ trì; nhà thờ đá 3 gian hướng đông để làng thờ Tiến sỹ Trịnh Cao Đệ.

Hàng năm, vào ngày 7 tháng Giêng, làng tổ chức hội du xuân cầu phúc ở ngoài đình, lễ vật được lấy từ hoa lợi ở ruộng công điền. Lễ hội diễn ra trong tiết trời xuân ấm áp với các nghi lễ cầu mong 1 năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu… Ngày rằm tháng Giêng, chùa làng tổ chức lễ lượn phướn Phật đản với lễ vật là hoa quả, xôi oản. Lễ hội thu hút đông đảo dân làng là những phật tử tham gia.

Tết Trung thu, làng tổ chức lễ Thánh mẫu ở Phủ đường do Hội đồng lý hương chủ trì. Nghi lễ được tiến hành khá công phu như tổ chức khiêng kiệu, rước bóng từ phủ đường và xung quanh làng. Tối đến tụ tập ở phủ đường để hầu bóng và hát văn, các trai làng còn tổ chức thi đấu vật, các cô gái thì tổ chức thi hát ghẹo bằng các làn điệu dân ca, nhiều đôi trai gái nên vợ nên chồng vào dịp này.

Trải qua thời gian và chiến tranh tàn phá, các công trình và các hoạt động văn hóa tinh thần trên dần bị mai một, chỉ còn lại trong kí ức người dân.

Năm 1998, làng Dương Hòa khai trương xây dựng làng văn hóa, đến năm 2002 được công nhận là Làng văn hóa cấp huyện và năm 2006 được công nhận Làng văn hóa cấp tỉnh. Năm 2002 nhân dân trong làng tổ chức xây dựng lại đình làng. Tổng kinh phí xây dựng là 147 triệu đồng, trong đó nhân dân đóng góp 67 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 80 triệu đồng.

Theo số liệu thống kế đến năm 2018 thị trấn Vạn Hà có tổng diện tích đất tự nhiên là 552,07 ha. Dân số 9490 nhân khẩu, 2427 hộ. Có 3 làng truyền thống ở liền kề nhau, bao gồm: Trí Cẩn, Kiến Hưng và Dương Hòa. Toàn bộ dân cư thị trấn sống quần tụ trên 59.2 ha được chia thành 12 Tiểu khu, trong đó làng Trí Cẩn gồm các tiểu khu 1, TK 2 và Tk 3; làng Kiến Hưng gồm các tiểu khu 4, TK 5, Tk 6 và Tk 7; làng Dương Hòa gồm các tiểu khu 8, TK 9, TK 10 và TK 11, có chung đặc điểm, truyền thống văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc của mỗi làng. Riêng tiểu khu 12 thuộc làng Kiến Hưng nằm ở cả 2 làng là Trí Cẩn và Kiến Hưng được chia tách từ tiểu khu 4 vào năm 2014 và công dân nhập cư mới.

Trong những năm qua, hoạt động của các tiểu khu trên địa bàn thị trấn đã đạt được những kết quả tích cực, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Cấp uỷ đảng, Chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các Tổ chức chính trị - xã hội cấp trên được triển khai thực hiện kịp thời, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, hiệu quả, góp phần phát triển sản xuất, xây dựng và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của địa phương; phòng chống và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường; đẩy nhanh tiến độ xây dựng đô thị văn minh; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đã đạt được, công tác tổ chức, hoạt động của tiểu khu cũng còn nhiều tồn tại, bất cập, quy mô tiểu khu nhỏ làm phát sinh tổ chức, tạo đầu mối, tăng số lượng người hoạt động không chuyên trách, gây áp lực chi ngân sách địa phương, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Chi bộ, Chi hội, Đoàn thể, khó khăn trong việc huy động nguồn lực từ cộng đồng dân cư để xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các tiêu chí xây dựng đô thị văn minh.

Từ thực tế nói trên, việc sáp nhập để thành lập tiểu khu mới trên địa bàn thị trấn Vạn Hà là phù hợp với thực tiễn địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cấp xã, tinh gọn bộ máy, giảm số lượng, đồng thời tạo sự gắn bó, cũng cố sức mạnh, tăng cường đầu tư xây dựng công trình phúc lợi xã hội từ cộng đồng dân cư.

Thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU, ngày 25/10/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo thực hiện sáp nhập thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 3010/QĐ-UBND, ngày 17/8/2018 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc đổi tên, chuyển thôn thành khu phố, sáp nhập để thành lập thôn, tổ dân phố tại xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Các tiểu khu ở thị trấn Vạn Hà được sáp nhập như sau:

- Sáp nhập tiểu khu 1 (154 hộ, 554 nhân khẩu, diện tích 66,68 ha) và tiểu khu 2 (162 hộ, 613 nhân khẩu, diện tích 37,44 ha) và tiểu khu 3 (209 hộ, 800 nhân khẩu, diện tích 40,24 ha) để thành lập tiểu khu 1. Sau khi thành lập, tiểu khu 1 có 525 hộ, 1.967 nhân khẩu, diện tích 144,36 ha.

- Sáp nhập tiểu khu 4 (246 hộ, 981 nhân khẩu, diện tích 72,45 ha) và một phần tiểu khu 5 (118 hộ, 440 nhân khẩu, diện tích 14 ha) để thành lập tiểu khu 3. Sau khi thành lập, tiểu khu 3 có 364 hộ, 1.421 nhân khẩu, diện tích 86,45 ha.

- Sáp nhập tiểu khu 6 (162 hộ, 558 nhân khẩu, diện tích 29,41 ha) và một phần tiểu khu 5 (98 hộ, 362 nhân khẩu, diện tích 15,05 ha) và tiểu khu 7 (182 hộ, 728 nhân khẩu, diện tích 50,52 ha) để thành lập tiểu khu 4. Sau khi thành lập, tiểu khu 4 có 442 hộ, 1.648 nhân khẩu, diện tích 94,98 ha.

- Sáp nhập tiểu khu 8 (171 hộ, 668 nhân khẩu, diện tích 75,3 ha) và tiểu khu 9 (217 hộ, 906 nhân khẩu, diện tích 68,31 ha) để thành lập tiểu khu 5. Sau khi thành lập, tiểu khu 5 có 388 hộ, 1.574 nhân khẩu, diện tích 143,61 ha.

- Sáp nhập tiểu khu 10 (185 hộ, 728 nhân khẩu, diện tích 26,88 ha) và tiểu khu 11 (117 hộ, 447 nhân khẩu, diện tích 31,62 ha) để thành lập tiểu khu 6. Sau khi thành lập, tiểu khu 6 có 302 hộ, 1.175 nhân khẩu, diện tích 58,5 ha.

- Đổi tên tiểu khu 12 thành tiểu khu 2.

Với bề dày truyền thống của vùng đất văn hóa, từ xa xưa, những người dân sinh sống trên mảnh đất này luôn được biết đến với đức tính cần cù, chịu khó và khéo léo trong lao động sản xuất. Ðây chính là nguồn sức mạnh giúp cho thị trấn Vạn Hà đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội.

Những năm gần đây, thực hiện chủ trương về phát triển kinh tế của Ðảng, Nhà nước, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - thương mại phát triển mạnh, tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ ngày càng tăng, tạo bước chuyển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội địa phương.

......................................................................

Lê Văn Tuấn

Phó Bí Thư Đảng ủy Thị trấn Vạn Hà

Cộng đồng dân cư.

Đăng lúc: 11/09/2019 09:30:05 (GMT+7)

Thị trấn Vạn Hà là một vùng đất cổ, không một tài liệu nào nói về thời gian thành lập của các làng trong thị trấn nhưng theo truyền thuyết và các công trình kiến trúc đền, chùa, nghè còn hiện diện trong làng thì ngay từ thời An Dương Vương, có ông Cao Lỗ - một tướng tài của An Dương Vương - do bất đồng về việc khuyên vua không gả Mị Châu cho Trọng Thủy đã từ quan về ở ẩn. Sau khi từ quan, ông đã đi vào phía nam khai khẩn đất đai. Đến vùng Vạn ven bờ sông Lường thấy cây cối tốt tươi, đất đai màu mỡ… ông bèn dừng chân lập trại, khai phá đất đai. Sau khi đã gây dựng được cơ sở để phát triển sản xuất, lập làng, ấp, ông bèn để lại 7 người gia binh để tiếp tục phát triển trang ấp, săn bắn, trồng trọt… còn mình thì tiếp tục vân du vào phía nam. Do vậy, ở văn sắc đình làng Kiến Trung (nay là Kiến Hưng) có ghi “Vãn Hà phường duy hữu thất nhân” (phường Vãn Hà chỉ có 7 người lúc ban đầu).

Ở Vạn Hà và nhiều địa phương khác, những nơi ông Cao Lỗ đến khai khẩn đất đai - đều lập đền thờ ông và tôn ông làm Thần Hoàng. Nghè 3 xã ở khu đất chợ Vạn (làng Kiến Hưng bây giờ) chính là nơi thờ ông Cao Lỗ (vì kiêng tên gọi Thần Hoàng nên nhân dân địa phương tránh gọi từ “lỗ”, thay bằng từ “hốc”). Phường Vãn Hà có thời còn được gọi là phường Vạn Phúc, nơi đây còn lưu truyền câu ca:

Chàng về Vạn, Vạc chàng ơi

Con chàng bỏ đói ai nuôi cho chàng

Từ lúc sơ khai, ngoài 3 làng Vạn cũ, sau này còn có làng Vĩnh Điện (còn gọi là làng Vạn Đền). Làng Vạn có nhiều ao hồ, cây sen mọc đầy, hoa lá xanh tươi, xanh ngắt 4 mùa. Về sau, dân số phát triển đông đúc, làng Vạn tách ra thành 3 thôn: thôn Kính Thượng (ở phía trên), có thời còn gọi là Kính Cẩn (nay là Trí Cẩn), thôn Kiến Trung (ở giữa) (nay là Kiến Hưng) và thôn Đông Triều (phía Đông), có thời còn gọi là Đông Minh và Đông Dương (nay là Dương Hòa).

Làng Trí Cẩn

Căn cứ vào tộc phả họ Lê thì sau khi dân số đông phường Vãn Hà chia ra làm 3 thôn, trong đó có thôn Kính Thượng (theo truyền thuyết ngay từ đời Vĩnh Khánh thứ 3 (thời hậu Lê - 1731), làng đã có tên là Kính Thượng). Đến thời Nguyễn, đời vua Minh Mệnh thứ nhất (1820), làng đổi tên là Trí Cẩn. Cho đến nay, làng có 19 dòng họ, đó là họ Lê (6 họ), Nguyễn (7 họ Nguyễn), Trần (3 họ), Trịnh (1 họ), Hoàng (1 họ), Đỗ (1 họ). Thuở ban đầu, mới là một xóm nhỏ ven sông Chu, trải qua thời gian, từ đời này sang đời khác, các dòng họ cùng nhau chung sống, xây dựng nên một làng quê phồn thịnh, sung túc.

Ngày nay, phía đông làng Trí Cẩn giáp làng Kiến Hưng, phía nam giáp đê sông Chu, phía bắc giáp làng Đỉnh Tân (xã Thiệu Phú), phía tây giáp làng Mật Thôn (xã Thiệu Phúc).

Trước Cách mạng tháng 8-1945, làng có khoảng 200 hộ với 800 nhân khẩu, từ sau cách mạng đến nay, dân số trong làng tăng nhanh do điều kiện sống được cải thiện. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, làng có một số hộ tình nguyện đi xây dựng vùng kinh tế, cụ thể: đến xã Thiệu Công là 31 hộ, đến xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc là 29 hộ, xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân là 37 hộ.

Thời Pháp thuộc, kinh tế thấp kém, người dân thường ở trong nhà tranh tre, nứa lá, cơm ăn ngày 2 bữa độn ngô, khoai, sắn. Đường làng ngõ xóm nhỏ hẹp, lầy lội, cả làng không có giếng nước, ăn uống, sinh hoạt người dân đều dùng nước sông Chu.

Dân làng Trí Cẩn sống bằng nông nghiệp, 1 năm 2 vụ lúa chiêm mùa. Vụ mùa trồng lúa, vụ chiêm trồng ít lúa nhiều màu (bông, cà, mía, dưa chuột, củ đậu…). Vào những lúc nông nhàn, người dân làm thêm một số nghề phụ như nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải, hàng sáo, hàng xén, làm bánh đa, thợ mộc, dạy học, bốc thuốc…

Tuy đời sống khó khăn nhưng người dân Trí Cẩn vẫn chuyên cần hiếu học và học giỏi. Có nhiều người đỗ đạt và làm quan to, tiêu biểu là ông Nguyễn Quang Minh, đậu Tiến sỹ thời Hậu Lê, ông làm quan đến chức Tả Thị Lang Bộ Lại. Ông có công giúp dân vượt qua cơn hoạn nạn nên khi mất được dân Phù Lỗ (Đông Anh, Hà Nội) lập thờ làm phúc thần và có đôi câu đối ca ngợi ông:

Vãn Hà bất một cao danh bảng

Phù Lỗ phục sinh đại phúc thần

Thời Pháp thuộc, đa số dân làng thất học, chỉ có một số ít người được đi học nhưng cũng đậu bằng Sơ học yếu lược, tiêu biểu là các ông Lê Thiện Phẩm, Lê Văn Mươi, Lê Xuân Sênh, Lê Xuân Nhị… Đậu bằng Prime có các ông Lê Văn Hinh, Lê Văn Hiệp, Lê Văn Cát, Lê Xuân Huyên… Đậu Điplôm có các ông Lê Văn Hiệp, Lê Xuân Thơm.

Dân cư Trí Cẩn hầu hết lấy tục thờ cúng tổ tiên làm tín ngưỡng chính. Ngoài ra, người dân còn thờ cúng người thành lập làng và các anh hùng dân tộc, các vị thần theo tín ngưỡng dân gian. Điều đó thể hiện qua các công trình văn hóa đình, chùa, nghè… từng hiện diện trong làng.

Các tục lệ cưới xin, ma chay đều diễn ra theo quy định của lệ làng: cưới vợ phải có giấy giá thú do hương bạ cấp. Lễ cưới diễn ra theo các tục lệ nạp “cheo” cho làng, làm lễ rước dâu, lễ tơ hồng, lễ lại mặt… Ngày Tết có tục lệ đến nhà nhau chúc Tết mở hàng, mừng tuổi người già và trẻ nhỏ…

Hàng năm, vào ngày 7 tháng Giêng (âm lịch) dân làng tổ chức tế Thần hoàng ở đình làng. Ông chủ tế được dân làng cử ra cùng 2 ông phụ tế để xướng đông, xướng tây. Trong lễ hội, ngoài chiêng trống còn có phường bát âm phục vụ. Lễ hội mang lại những phút giây thư giãn sau những ngày lam lũ, đồng thời cũng là dịp quyên góp để xây dựng một công trình văn hóa nào đó…

Ngày 22-2 và ngày 16-8 (âm lịch) hàng năm, làng tổ chức hội “rước bóng”. Trong phần lễ, có các hoạt động rước kiệu bát cống, kiệu long đình diễn ra rất trang nghiêm, sau đó đến phần hội với các tiết mục hát chầu văn và các trò chơi dân gian, thu hút đông đảo người dân tham gia.

Cũng giống như các làng khác trong thị trấn Vạn Hà, dân làng Trí Cẩn cũng thờ Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ làm Thần Hoàng làng trong đình. Đình cũng là nơi hội họp để chức sắc bàn việc làng và là nơi vui chơi giải trí mùa lễ hội.

Chùa làng Trí Cẩn được xây dựng tại đồng Dưa, tuy quy mô nhỏ nhưng mang dáng dấp của một ngôi chùa cổ. Bên cạnh chùa có gốc cáo cổ thụ. Vào ngày rằm và mùng 1, dân làng đến thắp hương và cúng bái rất đông.

Ngoài đình, chùa, làng Trí Cẩn còn có phủ, nghè, Văn chỉ, Võ chỉ, điếm… điều đó thể hiện nét đặc trưng trong sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân làng Trí Cẩn.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, dân làng Trí Cẩn hăng hái đi theo tiếng gọi của Đảng, đứng lên làm cách mạng, cầm súng đánh giặc giữ nước, giữ bình yên thôn làng.

Hòa bình lập lại, nhân dân làng Trí Cẩn lại bắt tay vào khôi phục và phát triển kinh tế theo đường lối của Đảng, đời sống ngày một nâng cao, quê hương ngày thêm đổi mới, giàu đẹp.

Ngày 25-12-2000 làng Trí Cẩn long trọng tổ chức lễ khai trương xây dựng làng văn hóa. Năm 2005, làng Trí Cẩn vinh dự được công nhận danh hiệu Làng Văn hóa cấp huyện. Ngày 9-12-2003 làng Trí Cẩn khởi công xây dựng lại đình làng, đến ngày 2-9-2004 đình làng được khánh thành. Tổng kinh phí xây dựng 315 triệu đồng. Trong đó nhân dân đóng góp 204 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 97 triệu đồng, hợp tác xã dịch vụ và nông nghiệp Thiệu Hưng hỗ trợ 14 triệu đồng.

Làng Kiến Hưng

Làng Kiến Hưng được tách ra từ phường Vãn Hà. Từ ban đầu đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có tên gọi là làng Kiến Trung, từ đầu năm 1946, khi xã Vãn Hà được thành lập thì làng Kiến Trung được đổi tên là làng Kiến Hưng cho đến ngày nay. Làng Kiến Hưng nằm giữa hai làng Dương Hòa và Trí Cẩn. Đây là vùng đất tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho giao thông, trồng trọt, có đường mòn xuyên qua giữa làng theo hướng bắc - nam (nay là Quốc lộ 45), có chợ, có bến sông, bến đò, có nghè ba xã.

Ngày nay, phía tây làng Kiến Hưng giáp làng Trí Cẩn, phía đông giáp làng Dương Hòa, phía nam giáp sông Chu, phía bắc giáp làng Vĩnh Điện (xã Thiệu Phú).

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, làng có tên gọi là Kiến Trung, thuộc tổng Mật Vật, phủ Thiệu Hóa. Làng có 9 dòng họ (họ Lê là lớn nhất) cùng nhau sinh sống thuận hòa, tương thân tương ái, dưới sự quản lý của hội đồng lý hương.

Trên đất làng, các công trình văn hóa như đình, nghè, chùa… được xây dựng, phản ánh đời sống tâm linh rất phong phú của cư dân vùng này.

Nghè thờ Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ (nghè xây trên đất chợ Vạn bây giờ), tương truyền đây là nơi đầu tiên Linh Quang Đại Vương đặt chân nghỉ lại. Sau khi Cao Lỗ mất đi, tưởng nhớ công ơn của Ngài dân làng xây dựng nghè để thờ vị. Không rõ nghè được xây dựng khi nào nhưng dấu ấn trùng tu cuối cùng vào năm 1810. Nghè được thiết kế theo hình chữ “Nhị”, bao gồm 3 gian chính tẩm, 5 gian tiền đường. Sân nghè rất rộng, phía trước có cổng tam quan, kiến trúc cầu kỳ. Phía tây bắc nghè là hai cây đa cổ thụ, tán rộng, tỏa bóng xum xuê, tạo cho nghè cảnh quan uy nghi, trầm mặc.

Đình làng cũng không rõ thời gian xây dựng. Đình thờ Thần Hoàng làng là Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ, có kiến trúc đồ sộ với những cột đình rất to. Đình cũng được thiết kế theo hình chữ “Nhị”, bên trong là chính tẩm, bên ngoài là tiền đường rộng rãi làm nơi hành lễ. Phía hữu đình là nơi làm việc của Hội đồng hương lý và 1 cồn đình rộng - nơi diễn ra các hoạt động thể thao, văn nghệ của dân làng, phía tả là nơi để trống làng, kiệu cờ, lộng, giáo kích... Ngày 15-11-2002, đình làng được khởi công xây dựng lại và hoàn thành vào ngày 6-8-2003. Tổng kinh phí xây dựng 274 triệu đồng, trong đó nhân dân đóng góp 152 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 88 triệu đồng và Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hỗ trợ 34 triệu đồng.

Chùa làng Kiến Hưng tọa lạc ngay phía sau đình làng, bước qua cổng hậu đình. Chùa có tháp chuông chồng lên cổng chùa, chuông to và rất nặng.

Văn chỉ nối liền với chùa, là nơi họp thường lệ của làng văn. Văn chỉ gồm 2 nhà, nhà ngoài 4 gian để trống làm nơi hội họp, nhà trong để bàn nhang. Võ chỉ được xây dựng rất uy nghi, có tường rào bao bọc dùng để thờ các vị tướng và là nơi sinh hoạt của làng binh.

Miếu nhà thánh thờ những người học vấn cao trong làng. Miếu gồm một nhà 3 gian, gỗ lim lợp ngói, có một bia đá lớn khắc chữ 2 mặt…

Mùng 7 tết làng tổ chức lễ tế Thần hoàng ở ngoài đình. Chủ tế, phụ tế do Hội đồng lý hương cử ra. Ngày tế Thần hoàng, từ cổng đình đến các đường làng, cờ lộng dăng dăng, dân làng nhộn nhịp, chiêng chống, bát âm rền vang. Sau phần nghi lễ, dân làng đốt pháo ăn mừng, chia phần xôi thịt cho tất cả những ai đã vào làng. Cũng trong dịp này, trai làng đến 18 tuổi soạn lễ ăn xin làng, những người ăn xin làng cùng năm gọi là đồng niên.

Trong mỗi dòng họ đều có nhà thờ họ. Nhân dịp năm mới, sau khi cúng lễ gia tiên tại nhà, mọi người thường đến nhà thờ họ thắp hương để nhớ về nguồn cội. Đây là một nét đẹp mà người dân Kiến Hưng luôn phát huy.

Dân làng Kiến Hưng sống chủ yếu bằng nông nghiệp, trước Cách mạng tháng 8-1945, mỗi năm cấy được 1 vụ không ăn chắc do phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Những nơi không cấy được có trồng lúa lốc, năng suất thấp, có nơi cấy được lúa chiêm (giữa dù) là nơi thấp trũng nhất của đồng Kếch. Ngoài ra, người dân còn trồng thêm hoa màu như bông, lạc, ngô, khoai… Lúc nông nhàn thì ươm tơ dệt lụa và làm các nghề khác để nâng cao đời sống.

Tuy cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng dân làng Kiến Hưng vẫn phát huy truyền thống của một vùng quê nghèo hiếu học, có nhiều người đỗ đạt cao như cụ Ngô Xuân Nhàn, cụ đỗ đầu thi Hương thời Tự Đức (năm thứ 16), được bổ làm quan tại Bắc Ninh, cụ Phạm Huy Cứ (ông tổ họ Phạm) - đời Cảnh Hưng được phong Tráng liệt Tướng quân, sau đó được phong Phấn liệt Tướng quân; cụ Lê Công Thụy (ông tổ họ Lê) được bổ nhiệm làm Tri huyện Thiên Bản; cụ Hoàng Hữu Đạo (ông tổ họ Hoàng) - thời Hậu Lê được tặng danh hiệu Đệ nhất hạng chi thần chủ… Các cụ kể trên hiện còn sắc phong tại nhà thờ họ của các dòng họ.

Thực dân Pháp xâm lược nước ta và thi hành chính sách ngu dân, mở trường học ít hơn nhà tù. Tuy nhiên, làng vẫn có người theo học và thi đậu tương đương cấp Tiểu học, lớp 9 bây giờ.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân làng Kiến Hưng không tiếc sức mình, đóng góp sức người, sức của để giành độc lập cho dân tộc cho mình, cùng dựng xây quê hương ngày thêm giàu đẹp.

Thực hiện chủ trương của Đảng về định cư phát triển kinh tế, năm 1963 làng đã vận động được 75 hộ đi định cư gồm: thôn Hưng Long (xã Thiệu Long) có 42 hộ, Thành Giang (xã Thiệu Thành) có 24 hộ, xã Ngọc Phụng (huyện Thường Xuân) có 11 hộ.

Ngày 22-4-2002, Kiến Hưng long trọng tổ chức lễ khai trương xây dựng làng văn hóa. Năm 2004, Kiến Hưng vinh dự được nhận danh hiệu Làng văn hóa cấp huyện.

Làng Dương Hòa

Sau khi tách ra từ phường Vãn Hà, thôn Đông Triều được đổi là thôn Đông Minh. Đến thời Minh Mệnh lại đổi tên thành thôn Đông Dương. Cách mạng tháng 8-1945 thành công, lại được đổi thành thôn Dương Hòa và giữ tên gọi đó cho đến nay.

Ngày nay, phía đông làng giáp xã Thiệu Nguyên, phía tây giáp làng Kiến Hưng, phía nam giáp đê sông Chu, phía Bắc giáp làng Vĩnh Điện (xã Thiệu Phú). Trong làng, có hồ nước ngọt Thiên Trụ rộng 7 mẫu, được hình thành tự nhiên, tạo cho làng cảnh quan kỳ thú, sơn thủy hữu tình. Dân làng đã khai thác tiềm năng mặt nước hồ (trồng rau) và nuôi thả cá. Hồ Thiên Trụ không những mang lại nguồn lợi kinh tế lớn mà còn đi vào trong tâm trí mỗi người dân nơi đây.

Thời xa xưa, nhân dân nơi đây cùng chịu chung cảnh bị đọa đày, áp bức. Không chịu cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân đã hưởng ứng ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung. Vượt lên trên tất cả, con em Dương Hòa vẫn vượt khó học giỏi, thi cử đỗ đạt cao, làm quan trong triều, tiêu biểu như các danh nhân Nguyễn Quán Nho, Trịnh Cao Đệ, Lê Văn Bình (đỗ Trạng nguyên), Ngọ Phúc Thành, Ngọ Thuận Chất, Ngọ Phúc Toàn, Lê Văn Bi (đỗ Cử nhân)… Trong đó, nổi tiếng nhất là tể tướng Nguyễn Quán Nho (1638-1708), ngày 12-8-1993, Nhà thờ cùng với khu mộ của ông đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân làng Dương Hòa đã đi theo các cuộc khởi nghĩa, giành tự do, giành cuộc sống cho mình. Tiêu biểu như các ông: Nguyễn Quán Huệ (cháu đời thứ 9 của tể tướng Nguyễn Quán Nho) tham gia phong trào Văn thân, ông Đào Văn Kiểm - tham gia cuộc khởi nghĩa, ông phụ trách quân lương ở 3 huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa và Bá Thước…

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đánh dấu một mốc son chói lọi trong phong trào giải phóng dân tộc. Nhân dân làng Dương Hòa hăng hái đi theo tiếng gọi của Đảng, làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại và tiếp bước vào cuộc trường chinh 9 năm kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1946-1954). Tiếp đó, nhân dân Dương Hòa lại hăng hái vừa sản xuất phát triển kinh tế, xây dựng quê hương, vừa góp sức cùng nhân dân miền Nam đánh tan giặc Mỹ xâm lược (1954-1975). Trong giai đoạn đấu tranh đầy gian khổ đó, nhân dân Dương Hòa đã tham gia nhiều phong trào sản xuất, tiêu biểu như vận động nhân dân đi xây dựng kinh tế mới (trong phong trào này, thôn đã vận động được 55 hộ, 31 hộ đến Đông Hòa Thiệu Duy và 24 hộ đến Ngọc Phụng Thường Xuân)...

Cũng giống như đa số làng quê khác, Dương Hòa cũng xây dựng một ngôi đình cổ (năm 1882) để dân làng hội họp vào các dịp lễ, tết. Đình làng Dương Hòa thờ Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ. Ngoài đình, làng Dương Hòa còn có một ngôi nghè, được xây dựng cùng thời điểm với ngôi đình, thờ thủy thần “Long Quy Đại Vương”. Năm 1932, dân làng đóng góp tiền của và công sức để xây dựng 1 ngôi phủ đường thờ đức Thánh mẫu “Liễu Hạnh công chúa”. Phủ đường gồm 3 gian võ chỉ quay hướng tây nam để thờ các võ tướng do làng binh chủ trì; nhà thờ đá 3 gian hướng đông để làng thờ Tiến sỹ Trịnh Cao Đệ.

Hàng năm, vào ngày 7 tháng Giêng, làng tổ chức hội du xuân cầu phúc ở ngoài đình, lễ vật được lấy từ hoa lợi ở ruộng công điền. Lễ hội diễn ra trong tiết trời xuân ấm áp với các nghi lễ cầu mong 1 năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu… Ngày rằm tháng Giêng, chùa làng tổ chức lễ lượn phướn Phật đản với lễ vật là hoa quả, xôi oản. Lễ hội thu hút đông đảo dân làng là những phật tử tham gia.

Tết Trung thu, làng tổ chức lễ Thánh mẫu ở Phủ đường do Hội đồng lý hương chủ trì. Nghi lễ được tiến hành khá công phu như tổ chức khiêng kiệu, rước bóng từ phủ đường và xung quanh làng. Tối đến tụ tập ở phủ đường để hầu bóng và hát văn, các trai làng còn tổ chức thi đấu vật, các cô gái thì tổ chức thi hát ghẹo bằng các làn điệu dân ca, nhiều đôi trai gái nên vợ nên chồng vào dịp này.

Trải qua thời gian và chiến tranh tàn phá, các công trình và các hoạt động văn hóa tinh thần trên dần bị mai một, chỉ còn lại trong kí ức người dân.

Năm 1998, làng Dương Hòa khai trương xây dựng làng văn hóa, đến năm 2002 được công nhận là Làng văn hóa cấp huyện và năm 2006 được công nhận Làng văn hóa cấp tỉnh. Năm 2002 nhân dân trong làng tổ chức xây dựng lại đình làng. Tổng kinh phí xây dựng là 147 triệu đồng, trong đó nhân dân đóng góp 67 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 80 triệu đồng.

Theo số liệu thống kế đến năm 2018 thị trấn Vạn Hà có tổng diện tích đất tự nhiên là 552,07 ha. Dân số 9490 nhân khẩu, 2427 hộ. Có 3 làng truyền thống ở liền kề nhau, bao gồm: Trí Cẩn, Kiến Hưng và Dương Hòa. Toàn bộ dân cư thị trấn sống quần tụ trên 59.2 ha được chia thành 12 Tiểu khu, trong đó làng Trí Cẩn gồm các tiểu khu 1, TK 2 và Tk 3; làng Kiến Hưng gồm các tiểu khu 4, TK 5, Tk 6 và Tk 7; làng Dương Hòa gồm các tiểu khu 8, TK 9, TK 10 và TK 11, có chung đặc điểm, truyền thống văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc của mỗi làng. Riêng tiểu khu 12 thuộc làng Kiến Hưng nằm ở cả 2 làng là Trí Cẩn và Kiến Hưng được chia tách từ tiểu khu 4 vào năm 2014 và công dân nhập cư mới.

Trong những năm qua, hoạt động của các tiểu khu trên địa bàn thị trấn đã đạt được những kết quả tích cực, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Cấp uỷ đảng, Chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các Tổ chức chính trị - xã hội cấp trên được triển khai thực hiện kịp thời, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, hiệu quả, góp phần phát triển sản xuất, xây dựng và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của địa phương; phòng chống và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường; đẩy nhanh tiến độ xây dựng đô thị văn minh; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đã đạt được, công tác tổ chức, hoạt động của tiểu khu cũng còn nhiều tồn tại, bất cập, quy mô tiểu khu nhỏ làm phát sinh tổ chức, tạo đầu mối, tăng số lượng người hoạt động không chuyên trách, gây áp lực chi ngân sách địa phương, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Chi bộ, Chi hội, Đoàn thể, khó khăn trong việc huy động nguồn lực từ cộng đồng dân cư để xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các tiêu chí xây dựng đô thị văn minh.

Từ thực tế nói trên, việc sáp nhập để thành lập tiểu khu mới trên địa bàn thị trấn Vạn Hà là phù hợp với thực tiễn địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cấp xã, tinh gọn bộ máy, giảm số lượng, đồng thời tạo sự gắn bó, cũng cố sức mạnh, tăng cường đầu tư xây dựng công trình phúc lợi xã hội từ cộng đồng dân cư.

Thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU, ngày 25/10/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo thực hiện sáp nhập thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 3010/QĐ-UBND, ngày 17/8/2018 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc đổi tên, chuyển thôn thành khu phố, sáp nhập để thành lập thôn, tổ dân phố tại xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Các tiểu khu ở thị trấn Vạn Hà được sáp nhập như sau:

- Sáp nhập tiểu khu 1 (154 hộ, 554 nhân khẩu, diện tích 66,68 ha) và tiểu khu 2 (162 hộ, 613 nhân khẩu, diện tích 37,44 ha) và tiểu khu 3 (209 hộ, 800 nhân khẩu, diện tích 40,24 ha) để thành lập tiểu khu 1. Sau khi thành lập, tiểu khu 1 có 525 hộ, 1.967 nhân khẩu, diện tích 144,36 ha.

- Sáp nhập tiểu khu 4 (246 hộ, 981 nhân khẩu, diện tích 72,45 ha) và một phần tiểu khu 5 (118 hộ, 440 nhân khẩu, diện tích 14 ha) để thành lập tiểu khu 3. Sau khi thành lập, tiểu khu 3 có 364 hộ, 1.421 nhân khẩu, diện tích 86,45 ha.

- Sáp nhập tiểu khu 6 (162 hộ, 558 nhân khẩu, diện tích 29,41 ha) và một phần tiểu khu 5 (98 hộ, 362 nhân khẩu, diện tích 15,05 ha) và tiểu khu 7 (182 hộ, 728 nhân khẩu, diện tích 50,52 ha) để thành lập tiểu khu 4. Sau khi thành lập, tiểu khu 4 có 442 hộ, 1.648 nhân khẩu, diện tích 94,98 ha.

- Sáp nhập tiểu khu 8 (171 hộ, 668 nhân khẩu, diện tích 75,3 ha) và tiểu khu 9 (217 hộ, 906 nhân khẩu, diện tích 68,31 ha) để thành lập tiểu khu 5. Sau khi thành lập, tiểu khu 5 có 388 hộ, 1.574 nhân khẩu, diện tích 143,61 ha.

- Sáp nhập tiểu khu 10 (185 hộ, 728 nhân khẩu, diện tích 26,88 ha) và tiểu khu 11 (117 hộ, 447 nhân khẩu, diện tích 31,62 ha) để thành lập tiểu khu 6. Sau khi thành lập, tiểu khu 6 có 302 hộ, 1.175 nhân khẩu, diện tích 58,5 ha.

- Đổi tên tiểu khu 12 thành tiểu khu 2.

Với bề dày truyền thống của vùng đất văn hóa, từ xa xưa, những người dân sinh sống trên mảnh đất này luôn được biết đến với đức tính cần cù, chịu khó và khéo léo trong lao động sản xuất. Ðây chính là nguồn sức mạnh giúp cho thị trấn Vạn Hà đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội.

Những năm gần đây, thực hiện chủ trương về phát triển kinh tế của Ðảng, Nhà nước, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - thương mại phát triển mạnh, tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ ngày càng tăng, tạo bước chuyển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội địa phương.

......................................................................

Lê Văn Tuấn

Phó Bí Thư Đảng ủy Thị trấn Vạn Hà