Truy cập

Hôm nay:
38
Hôm qua:
389
Tuần này:
38
Tháng này:
3312
Tất cả:
108869

Lịch sử - Truyền thống Thị trấn Vạn Hà

Ngày 01/12/2017 00:00:00

Vạn Hà là vùng quê có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, yêu nước và cách mạng. Nơi đây đã sản sinh ra những danh nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho đất nước.

Huyện Thiệu Hóa ngày nay được kiến tạo từ hai vùng đất thuộc huyện Quân Ninh và huyện Tư Phố trong quận Cửu Chân. Dấu tích thành Tư Phố - trị sở của quận và lỵ sở của huyện, điểm hội tụ, đầu mối giao thông thủy - bộ của cả khu vực, hiện vẫn còn tại làng Giàng (Dương Xá - Thiệu Dương).

Sang thời Lý - Trần, các huyện trên đổi tên là Lường Giang và Cửu Chân. Đến thời Lê, các tên gọi Thụy Nguyên và Đông Sơn lần lượt được sử dụng.

Sở dĩ Quân Ninh được gọi là Lường Giang vì có sông Lường (tên gọi cũ của sông Chu). Đến thế kỷ XV, vào đầu thời Lê Thái Tổ (năm 1428), do là nơi phát tích của nhà Lê nên triều đình đem đất này đặt làm Tây Kinh và đổi tên huyện là Thụy Ứng. Khi Lê Thánh Tông định bản đồ, đưa huyện lỵ vào phủ Thiệu Thiên, lấy lại tên cũ là Lường Giang. Đời Đoan Khánh đổi tên thành huyện Thụy Nguyên.

Thời Nguyễn, dưới triều Gia Long, huyện lỵ dời về Mật Vật. Dưới thời Minh Mệnh đóng ở Kiến Trung (thuộc xã Thiệu Hưng, nay là thị trấn Vạn Hà). Năm 1815, phủ Thiệu Thiên đổi tên thành phủ Thiệu Hóa.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, 3 thôn làng Vạn gọi là Trí Cẩn, Kiến Trung, Đông Dương đều thuộc tổng Mật Vật, phủ Thiệu Hóa.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, phủ Thiệu Hóa đổi thành huyện Thiệu Hóa, cấp tổng bị bãi bỏ, thành lập 12 xã mới, trong đó có xã Vãn Hà. Tháng 3-1953, 12 xã lớn của huyện Thiệu Hóa chia thành 30 xã và 1 thị trấn, xã Vãn Hà chia thành 3 xã là Thiệu Phúc, Thiệu Phú và Thiệu Hưng. Xã Thiệu Hưng có 3 thôn, gồm: Trí Cẩn, Kiến Hưng, Dương Hòa.

Ngày 5-7-1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa. 15 xã nằm trong vùng tả ngạn sông Chu sáp nhập vào huyện Yên Định, lập ra huyện mới mang tên Thiệu Yên. 16 xã còn lại ở hữu ngạn sông Chu sáp nhập vào Đông Sơn, lập ra huyện Đông Thiệu (năm 1982 đổi theo tên cũ là Đông Sơn).

Ngày 18-11-1996, huyện Thiệu Hóa được tái lập theo Nghị định số 72/CP của Chính phủ. Ngày 1-1-1997, địa giới và tổ chức hành chính trở lại như Thiệu Hóa của 20 năm trước đây. Huyện Thiệu Hóa có 30 xã và 1 thị trấn.

Ngày 30-10-2000, thị trấn Vạn Hà chính thức được thành lập theo Nghị định số 63/CP của Chính phủ, trở thành thị trấn huyện lỵ Thiệu Hóa, trên cơ sở toàn bộ diện tích, dân số xã Thiệu Hưng (gồm 545,02ha và 6.321 khẩu).

Vạn Hà là vùng quê có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, yêu nước và cách mạng. Nơi đây đã sản sinh ra những danh nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho đất nước như Tể tướng Nguyễn Quán Nho, một trong số 39 người có công lao tài đức trong 255 năm thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788), được nhân dân đương thời ca tụng "Tể tướng Vãn Hà thiên hạ âu ca". Trên địa bàn Thị trấn có 2 di tích lịch sử cấp Quốc gia là Đền thờ danh nhân Đinh Lễ và Đền thờ danh nhân Nguyễn Quán Nho, có 1 di tích lịch sử cấp tỉnh là Đền thờ danh nhân Nguyễn Quang Minh. Nhân dân Vạn Hà cần cù trong lao động, ham học hỏi, đoàn kết, năng động, sáng tạo, sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới.

Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi mở đất lập xóm cho đến nay, do phải đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, với giặc ngoại xâm đã hun đúc nên những đức tính tốt đẹp, sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần phong phú, góp phần tạo nên cốt cách của con người Vạn Hà.

Văn hóa tinh thần của người dân Vạn Hà rất phong phú. Người dân Vạn Hà luôn duy trì rất nhiều tục lệ tốt đẹp và lành mạnh như tục lập ra các hội đồng niên (nam giới), hội phường (nữ giới) gồm những trai gái trong làng cùng lứa tuổi, góp vốn, góp quỹ để kết giao, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, trong lao động sản xuất và trong sinh hoạt hàng ngày. Đó là những nét đẹp và truyền thống quý báu được các thế hệ người dân nơi đây dày công vun đắp. Yêu đất nước, nam nữ, yêu lao động, sản xuất… được thể hiện qua các thể loại như hò, vè, ca dao, tục ngữ, hát ghẹo, hát đúm, hát trống quân, cò lả, hát xẩm, hát xoan. Riêng hát ghẹo được tổ chức vào trung tuần tháng 8 (âm lịch). Tại đây trai tài, gái sắc tụ tập nhau bằng hội, bằng phường, hội đồng niên, tổ chức hát đối đáp bằng các làn điệu dân ca (chủ yếu là hát trống quân), hát mời, hát vào cuộc, hát giã từ. Cuộc vui được tổ chức thâu đêm suốt sáng, nhiều đôi trai gái nên vợ, nên chồng vào dịp này.

Ca dao, hò vè cũng có nhiều nội dung nhằm giới thiệu đặc điểm làng mình như: “lúa cây đa, cà Mệnh Mở, ở ngõ Cạy” hoặc câu thành ngữ: “rau muống Đông Dương, chấm tương Trí Cẩn”… Vè cũng nhằm chống các hủ tục lạc hậu, các thói hư tật xấu, chống phong kiến…

Ngoài các hình thức sinh hoạt văn hóa trên, một nét văn hóa dân gian nổi bật ở Vạn Hà là các câu đối. Câu đối được treo ở đình, chùa, nghè, phủ, đền thờ và các nhà thờ họ, trong 1 số gia đình để ghi nhận lịch sử vẻ vang, công trạng hoặc giáo dục con cháu về nề nếp gia phong…

Từ những phong tục tập quán tốt đẹp và nếp sống văn hóa lành mạnh, làng, xã Vạn Hà xưa đã được Lê Lợi trong 1 chuyến đi thị sát tình hình phong tặng mỹ hiệu “Vãn Hà phong tục mỹ”.

Sinh hoạt cộng đồng làng, xóm được coi trọng. Các kỳ lễ, trò diễn hàng năm được tổ chức vào các ngày âm lịch như: lễ thượng tiêu (30-12), lễ du xuân kỳ phúc (7-1), lễ lượn phướn Phật đản (8-4), vọng lão 70 (tháng 2), lễ rước bóng (16-1), diễn ra ở các phủ, lễ thượng thuyền (tháng 2), lễ hạ điền (tháng 6), thượng điền (tháng 7), lễ cầu mát, cầu mưa… Khi tham gia các kỳ lễ này, mọi người phải thành tâm, tự nguyện, không tổ chức xa hoa, linh đình, vào những ngày lễ, ngày hội hay việc xóm, người dân thường làm lễ tạ thần linh, tổ chức lễ hội vui chơi như: thi đấu cờ, đấu võ, hội vật, nấu cơm thi, hát chèo, hát bội, bình thơ, múa lân, đốt pháo bông…

Tôn giáo, tín ngưỡng và các công trình văn hóa: 100% người dân Vạn Hà theo tín ngưỡng Phật giáo và đạo thờ cúng tổ tiên (Vạn Hà không có đồng bào theo đạo Thiên Chúa). Việc mỗi làng đều có 1 ngôi chùa cổ đã phản ánh điều đó. Ngoài tục thờ cúng tại nhà, người dân Vạn Hà còn thờ cúng tại các nhà thờ của dòng họ mình để hướng về nguồn cội.

Bên cạnh đó, người dân Vạn Hà còn thờ cúng các vị thần, các anh hùng dân tộc... Các hình thức tín ngưỡng này thể hiện sự tri ân của người dân với những người có công với dân, với nước, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Văn hóa vật thể ở Vạn Hà cũng tương đối phong phú và đa dạng. Ở mỗi làng đều có đình, đình ở Vạn Hà thường được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Đình là nơi hội họp, sinh hoạt văn hóa, lễ hội hàng năm của dân làng và chức sắc. Sinh hoạt thường diễn ra vào các dịp 7-1 (âm lịch) lễ du xuân, kỳ phúc. Đình ở 3 làng đều thờ vọng Thần hoàng làng là Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ.

Nghè làng Kiến Trung thờ Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ, dấu vết trùng tu cuối cùng của nghè là vào năm 1810. Nghè thôn Trí Cẩn, Dương Hòa thờ thủy thần Long Uyên Đại Vương. Ngoài đình, chùa, nghè, ở 3 làng còn có phủ thờ Đức Thánh trần và Thánh mẫu, miếu văn chỉ, miếu võ chỉ và 1 số điện thờ… Tuy nhiên, do chiến tranh và thời gian tàn phá nên các công trình kiến trúc văn hóa trên không còn nữa, chỉ còn lại trong tâm trí người dân, hoài niệm về các sinh hoạt dân gian truyền thống.

Tục lệ làng xã: Sau khi ổn định nơi sinh sống, do yêu cầu mở rộng đất canh tác, mở rộng sản xuất, phát triển mối quan hệ, tăng cường giao lưu… người dân các làng đặt ra quy ước, khoán ước để bảo vệ và điều chỉnh những mối quan hệ đó. Quy ước của các làng Vạn nhìn chung giống nhau nhưng do việc tổ chức làm ăn ở từng làng có những đặc trưng riêng nên quy ước làng cũng mang sắc thái đó. Những quy ước, tiết lệ chung đó được người dân thực hiện từ đời này sang đời khác, bổ sung, hoàn thiện qua từng thế hệ và trở thành lệ làng.

Lệ làng xem như pháp quy của một đơn vị dân cư, được xây dựng trên cơ sở nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Những người vi phạm lệ làng thường bị phạt rất nặng. Lệ làng quy định nam giới 18 tuổi thì được vào làng trai, hết tuổi làng trai được vào trùm làng (53 tuổi), rồi vào làng lão (55 tuổi). Nếu vi phạm lệ làng, nam giới không được vào trùm làng và vẫn phải chịu cảnh phục dịch như làng trai. Việc phân định ngôi thứ như vậy được quy định rất nghiêm ngặt vì các dịp lễ lạt, ngôi thứ quyết định vị trí ngồi sang - hèn cho mỗi người.

Lệ làng cũng quy định việc tang ma, cưới hỏi… Khi trong làng có người qua đời, trong vòng 3 ngày người làng không được tổ chức vui chơi ca hát. Làng cũng quy định việc thắp hương, nến, treo cờ đánh trống đến việc con cháu chịu tang, cách buộc khăn tang và thời gian mang tang cho từng thế hệ.

Trong năm (âm lịch), có các quy định kỳ tiết hội làng (từ 30 tháng Chạp năm trước đến hết tháng Chạp năm sau). Trong tháng Chạp, từ ngày mùng 10 có các kỳ lão, vọng lão 60. Riêng họ Lê, Chạp lễ vào ngày 14, Chạp làng, Chạp chạch vào ngày 20, tiễn ông bếp vào ngày 23 và lễ sắp ấn vào ngày 25.

Lệ làng là những quy chế do người làng đặt ra, không ghi bằng văn bản nhưng được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Lệ làng không chỉ thể hiện khi có việc làng, khi tế lễ mà còn đi vào cuộc sống, vào tiềm thức, vào tập quán của từng cụm dân cư, trở thành một nét đặc trưng của làng quê Việt Nam xưa.

Hàng năm, lệ làng còn quy định thời gian, mức độ tu bổ đường xá, cầu cống… Mọi người đi làm đều phải tự giác, không được thù lao, công xá. Việc tổ chức được tính toán cẩn thận, từng phần việc được chia căn cứ theo độ tuổi từ dưới lên. Người đậu khoa bảng, có trình độ học vấn được miễn làm việc nhưng phải lo việc tế lễ qua các kỳ lễ lạt của làng.

Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chúng tổ chức bộ máy chính quyền đến tận cơ sở làng xã. Tuy vậy, lệ làng vẫn được duy trì và buộc bộ máy chính quyền làng (ngũ hương) phải tuân theo.

Truyền thống học hành, khoa cử: Người Vạn Hà rất coi trọng việc học hành, truyền thống đó được thể hiện trong hương ước và tập quán của xóm để làm gương cho hậu thế noi theo. Điển hình ở Vạn Hà, có 3 người đỗ Tiến sỹ, đó là: Nguyễn Quang Minh (1628), Trịnh Cao Đệ (1650), ông Nguyễn Quán Nho (1667). Các ông đã được khắc tên ở văn bia Quốc Tử Giám (Hà Nội). Trong đó, nổi bật là ông Nguyễn Quán Nho1, học cao, hiểu rộng, làm quan đến chức Tể tướng, lại nổi tiếng thanh liêm, chính trực.

Cả huyện Thiệu Hóa chỉ có 1 trường Tiểu học Pháp - Việt, các môn học dạy bằng tiếng Pháp, riêng môn quốc văn dạy bằng tiếng Việt (rédaction annamite) là bằng tiếng Việt. Người học lớp nhất (rupirienre) cuối cùng ở 3 làng Vạn, khóa (1944-1945 và thi Primaire là các ông: Phùng Văn Sinh (Dương Hòa), Nguyễn Văn Tuệ, Hoàng Hữu Thành, Nguyễn Hữu Thận (Kiến Hưng).

Dưới chế độ mới, người học trò Vạn Hà chuyên cần học tập, lập được nhiều thành tích xuất sắc. Hàng năm trong xã đều có nhiều con em các gia đình đỗ đạt vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trên khắp mọi miền Tổ quốc. Theo số liệu điều tra, đến tháng 10-2017, Vạn Hà có 1.279 người đã tốt nghiệp hoặc đang học đại học, 89 thạc sĩ; 12 tiến sĩ; 02 phó giáo sư, tiến sĩ; Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới 01 người; Cấp hàm thượng, đại tá trong quân đội, công an 14 người.

Truyền thống phòng chống thiên tai, bảo vệ làng xã: bão lụt và hạn hán là mối nguy cơ đe dọa thường xuyên đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Từ xưa, nhân dân ta đã phải gắng sức chống chọi với thiên tai, lũ lụt để bảo vệ sản xuất, bảo vệ sự sống, sự bình yên của thôn làng. Truyền thuyết kể lại vào khoảng thời Lê Trịnh, xảy ra 1 trận lụt lớn làm vỡ đê ở phía đông làng Đông Dương tạo thành “bầu ấu”, “bầu chiêm”. Nhân dân phải đắp 1 đoạn đê quai dài 1km. Lúc bấy giờ, quan tể tướng Nguyễn Quán Nho đã tâu vua xin voi về dẫm đất đê quai. Từ việc này, trong dân gian đã lưu truyền câu ca:

Ai về Vãn Hà mà coi

Coi ông quan thượng mang voi làm đường

Năm Ất Dậu (năm 1945) đê làng Đông Dương lại bị vỡ, tạo thành “nổ bể”. Sau mỗi đợt vỡ đê, nhân dân chịu cảnh lũ lụt, mất nhà, mất cửa, tính mạng người dân bị đe dọa, nạn dịch bệnh xảy ra.

Không chỉ có lũ lụt, hạn hán cũng thường xuyên đe dọa đến cuộc sống dân làng. Để có mưa gieo mạ, cấy cày, dân làng phải nhờ đến thần linh, tổ chức hội “đảo vũ” để cầu mưa. Vào tháng 3, tháng 4, sau lễ cầu mát, cầu mưa mà trời vẫn nắng hạn thì hàng tổng, tri phủ lại tổ chức lễ rước kiệu, tế lễ ở nghè Vước, nghè 3 xã… đợt tế lễ có khi kéo dài hàng chục ngày trời, lễ đến khi nào có mưa mới thôi. Vì vậy, ở Vạn Hà, nhân dân lưu truyền câu ca dao:

Mồng tám tháng tư không mưa

Bỏ cả cày bừa mà vứt lúa đi

Truyền thống lao động, sản xuất: Từ xưa đến nay, người dân Vạn Hà sống chủ yếu bằng nông nghiệp với việc cấy trồng lúa nước, lúa bãi, trồng ra loại lúa thơm ngon có tiếng như gạo chậu, tám thơm, hiên, nếp cái hoa vàng. Trước đây, do hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện nên người dân chỉ cấy được 1 vụ (không ăn chắc). Ngày nay, do sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và thủy nông hoàn chỉnh nên người nông dân cấy được 2 vụ/năm, năng suất tăng cao. 90% dân số Vạn Hà sống bằng nghề này. Bên cạnh trồng cây lương thực, người dân Vạn Hà còn trồng thêm các loại rau màu như cà, dưa, củ đậu, trồng mía kéo mật… để dùng trong gia đình và cải thiện thu nhập.

Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, người dân Vạn Hà còn làm một số nghề phụ trong những lúc nông nhàn để kiếm thêm thu nhập như nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, ươm tơ kéo sợi… Dâu được trồng ở các bãi ven sông ở cả 3 làng. Bông được trồng trong khoảng thời gian từ tháng chạp đến tháng 4, tháng 5 (âm lịch), trên các cánh đồng màu, đất pha. Người dân thu hoạch bông để cung cấp cho nghề cán bông, cung bông kéo sợi, dệt vải tự túc. Diện tích trồng bông chiếm khoảng 10%. Nghề ươm tơ kéo sợi, dệt lụa, dệt vải thu hút khá đông phụ nữ tham gia (có thời kỳ hầu như nhà nào có con gái là có khung dệt, có xa kéo sợi). Thịnh hành nhất là vào những năm 1936-1944, thời gian này vải và lụa kẻ Vạn có tiếng trong vùng nên có câu ca:

Con ơi muốn nên thân người

Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha

Gái thì giữ việc trong nhà

Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa

Bên cạnh những nghề thuộc phái nữ này, nam giới Vạn Hà cũng làm thêm các nghề như nghề mộc, nghề nề, nghề giắng, nghề rèn, tiện, may, thuộc da bưng trống, sơn mài, đan mành trúc, đan thuyền…

Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm: Nhân dân Vạn Hà cũng như nhân dân các xã trong huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa vốn có truyền thống yêu quê hương, đất nước và đánh đuổi giặc ngoại xâm. Theo các thư tịch cổ và các truyền thuyết, các câu chuyện truyền miệng được biết: từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến cuộc khởi nghĩa chống lại sự bành trướng của các thế lực phong kiến phương Bắc dưới các triều đại Lý, Trần, Lê… nhân dân trong vùng luôn hưởng ứng và ủng hộ các cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc.

Trong những năm 1885-1886, phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp dấy lên mạnh mẽ ở Thanh Hóa, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Hùng Lĩnh, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Phương với căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng, cuộc khởi nghĩa của Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước ở miền núi…

Phong trào Cần Vương chống Pháp cũng được xây dựng ở Vạn Hà, trụ sở đặt tại đình Kiến Trung. Đó là các ông Lê Xuân Trơn, Lê Văn Lộc, Nguyễn Văn Khả, Lê Văn Thám, Trần Binh Vịnh (làng Trí Cẩn), Đào Văn Tấn, Nguyễn Quán Huệ (làng Dương Hòa). Trong đó, có người làm đội trưởng, có người làm đội viên giữ cờ…

Ngoài việc xây dựng căn cứ, người dân yêu nước Vạn Hà còn đi theo và ủng hộ nghĩa quân như các ông Lê Văn Vụ (làng Trí Cẩn), Lê Văn Hơn, Nguyễn Quân Khánh, Lê Văn Vược, Ngô Văn Lễ, Hoàng Văn Tốn, Lê Văn Lố, Nguyễn Văn Lược (Kiến Hưng), Đào Kiệm (Dương Hòa)…

Phong trào Cần Vương chống Pháp ở Thanh Hóa và Thiệu Hóa bị thất bại nhưng lòng yêu nước của nhân dân các làng Vạn Hà thì còn mãi, là tấm gương sáng cho thế hệ mai sau noi theo.

Sau khi ổn định bộ máy cai trị, thực dân Pháp tiến hành khai thác, bóc lột đất nước và nhân dân ta. Phủ lỵ đóng ngay trên đất Kiến Trung. Nhân dân Vạn Hà nói riêng cũng như nhân dân cả nước nói chung ngoài vòng áp bức của phong kiến vốn đã đè nặng lên đầu hàng thế kỷ, lại thêm tầng áp bức của tư bản thực dân Pháp.

Trong suốt chặng đường cách mạng 1930-1954, phong trào đấu tranh của nhân dân Vãn Hà trải qua rất nhiều khó khăn, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc. Từ lòng yêu nước nồng nàn, ngay từ rất sớm một số thanh niên xã Vãn Hà đã giác ngộ cách mạng, tìm đến ánh sáng của Đảng, tổ chức được Hội Việt Minh và bí mật hoạt động góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trong cả nước năm 1945. Năm 1947, Chi bộ Đảng xã Vãn Hà ra đời đã góp phần xây dựng Đảng trưởng thành, phát triển và lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trước những khó khăn, gian khổ ngày đầu kháng chiến và những mất mát hy sinh của đồng bào, Chi bộ Vãn Hà vẫn thể hiện rõ vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của mình, đưa nhân dân Vãn Hà tiến lên quét sạch giặc Pháp xâm lược, bảo vệ quê hương. Tuy nhiên, trong kháng chiến chống Pháp, Vãn Hà là nơi bị Pháp ném bom bắn phá thường xuyên các mục tiêu như bến phà, giao thông, chợ, trường học, bệnh viên… làm chết 91 người, bị thương 65 người, 108 nóc nhà bị phá hủy.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Vãn Hà đã cống hiến không tiếc sức người sức của cho kháng chiến chống thực dân Pháp. Đã có 100 người cán bộ thoát ly, 122 người tham gia dân quân du kích, 185 người tham gia dân quân tự vệ, 61 thanh niên tòng quân vào bộ đội, 5 người tham gia vào bộ đội địa phương và 3.538 lượt người đi dân công, vận chuyển được 1,388 tấn lương thực và 566.680kg hàng hóa, súng đạn, ủng hộ tiền: 1.470 đồng, vàng: 5,2 lạng, bạc: 21kg, đồng: 705kg, mua 76 công phiếu kháng chiến, mua 107 công trái quốc gia… góp phần xứng đáng vào chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) nói riêng và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung.

Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân Vãn Hà đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cùng Huân, Huy chương kháng chiến như: Cờ quyết thắng chiến dịch Đông - Xuân Điện Biên Phủ; Cờ luân lưu đơn vị khá nhất về thuế công - thương nghiệp; Cờ thi đua khá nhất làm công trình tiêu thủy Bàn Thạch; Cờ thi đua suất sắc khu vực đồng bằng về thành tích đóng góp tài chính cho kháng chiến.

Ngày 5- 8-1964, đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” nhằm phát động cuộc chiến tranh leo thang phá hoại ra miền Bắc bằng không quân và hải quân. Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần này, đế quốc Mỹ muốn ngăn chặn nguồn hàng tiếp tế từ bên ngoài vào miền Bắc, từ miền Bắc vào miền Nam, phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm lung lay ý chí chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc Việt Nam. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ”.

Từ đây, công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân miền Bắc nói chung, nhân dân Thiệu Hưng nói riêng phải chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống đế quốc Mỹ leo thang phá hoại, bảo vệ miền Bắc và chi viện cho miền Nam đánh giặc giữ nước.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc (những năm 1964-1968 và năm 1972), khi sự ác liệt đã đến điểm đỉnh, máy bay giặc Mỹ đã 54 lần đánh phá xã Thiệu Hưng, trút xuống mảnh đất nhỏ bé này nhiều bom đạn, gây thiệt hại về người và nhiều tài sản của nhân dân. Nhưng Đảng bộ xã vẫn luôn vững vàng tay lái, vừa lãnh đạo nhân dân chiến đấu ngoan cường dũng cảm, phối hợp cùng bộ đội chủ lực và các xã bạn đánh bại tất cả các trận không kích của địch, tổ chức tốt công tác phòng không sơ tán, bảo vệ vững chắc an toàn làng xã; vừa lãnh đạo nhân dân không ngừng đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống mọi mặt trong điều kiện thời chiến, góp phần tích cực xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Song song với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ xã Thiệu Hưng luôn ý thức được trách nhiệm lớn lao đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Vì thế, đã lãnh đạo nhân dân trong xã thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ đóng góp về sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Về lương thực, thực phẩm đã đóng góp 2.217 tấn thóc và 731 tấn thịt các loại. Về sức người, xã đã động viên được hơn 650 thanh niên nam nữ lên đường tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường. Trong đó, hơn 500 người là bộ đội, một bộ phận vào thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân quốc phòng. Có nhiều thanh niên khi nhập ngũ còn đang là học sinh ở các trường phổ thông, sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp. Riêng năm 1972, thực hiện chủ trương động viên cục bộ của Trung ương Đảng và Nhà nước, công tác tuyển quân diễn ra nhiều đợt, xã đã động viên được hơn 100 thanh niên nhập ngũ, vượt 45% quân số theo chỉ tiêu cấp trên giao. Một phẩm chất chung cao quý của lớp lớp thanh niên lên đường ra mặt trận thời bấy giờ là dù biết chiến tranh là gian khổ hy sinh, dù biết ra đi có thể sẽ không bao giờ trở về nhưng nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, họ đã hăng hái tình nguyện lên đường với một quyết tâm:

Ra đi nguyện một lời thề

Chưa thắng giặc Mỹ, chưa về quê hương

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã thắng lợi hoàn toàn, cả nước có hòa bình, độc lập, thống nhất và cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng bộ và nhân dân xã Thiệu Hưng hết sức tự hào vì đã có những đóng góp xứng đáng trong thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Song để có được thắng lợi ấy, 110 người con của Thiệu Hưng đã anh dũng hy sinh, 128 người đã để lại một phần xương máu tại các chiến trường. Có 1 gia đình cả 3 con trai là liệt sỹ. Một số gia đình có 2 con là liệt sỹ. Có những gia đình cả 4 anh em trai đều là bộ đội, cả 4 cha con đều trong quân ngũ... Tất cả đã góp phần tô thắm thêm truyền thống anh hùng của địa phương.

Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc, Vạn Hà có hàng nghìn lượt người tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, có 153 liệt sỹ, hàng trăm thương bệnh binh, 1.166 người được tặng huân, huy chương. Đảng bộ và nhân dân vinh dự được Nhà nước tặng thưởng.

- 01 Huân chương chiến công hạng nhì

- 654 Huân chương kháng chiến hạng nhất

- 91 Huân chương kháng chiến hạng hai

- 209 Huân chương kháng chiến hạng ba

- 04 Huân chương lao động hạng ba

- 102 Huy chương kháng chiến hạng nhất

- 57 Huy chương kháng chiến hạng nhì

- 25 Bằng khen của Hội đồng Nhà nước

- 370 Bằng khen của UBND Tỉnh

- 09 bà mẹ được phong tặng, truy tặng bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tiêu biểu như mẹ Tô Thị Đốm có 3 con trai đều đã hy sinh cho Tổ quốc.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân thị trấn Vạn Hà đã phát huy truyền thống cách mạng, tập trung phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, đồng thời luôn hoàn thành tốt các chỉ tiêu đóng góp cho Nhà nước. Thị trấn Vạn Hà vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân và tổ chức lễ đón nhận vào ngày 8 tháng 01 năm 2001.

-------------------------------------------------------

Lê Tuấn

Lịch sử - Truyền thống Thị trấn Vạn Hà

Đăng lúc: 01/12/2017 00:00:00 (GMT+7)

Vạn Hà là vùng quê có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, yêu nước và cách mạng. Nơi đây đã sản sinh ra những danh nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho đất nước.

Huyện Thiệu Hóa ngày nay được kiến tạo từ hai vùng đất thuộc huyện Quân Ninh và huyện Tư Phố trong quận Cửu Chân. Dấu tích thành Tư Phố - trị sở của quận và lỵ sở của huyện, điểm hội tụ, đầu mối giao thông thủy - bộ của cả khu vực, hiện vẫn còn tại làng Giàng (Dương Xá - Thiệu Dương).

Sang thời Lý - Trần, các huyện trên đổi tên là Lường Giang và Cửu Chân. Đến thời Lê, các tên gọi Thụy Nguyên và Đông Sơn lần lượt được sử dụng.

Sở dĩ Quân Ninh được gọi là Lường Giang vì có sông Lường (tên gọi cũ của sông Chu). Đến thế kỷ XV, vào đầu thời Lê Thái Tổ (năm 1428), do là nơi phát tích của nhà Lê nên triều đình đem đất này đặt làm Tây Kinh và đổi tên huyện là Thụy Ứng. Khi Lê Thánh Tông định bản đồ, đưa huyện lỵ vào phủ Thiệu Thiên, lấy lại tên cũ là Lường Giang. Đời Đoan Khánh đổi tên thành huyện Thụy Nguyên.

Thời Nguyễn, dưới triều Gia Long, huyện lỵ dời về Mật Vật. Dưới thời Minh Mệnh đóng ở Kiến Trung (thuộc xã Thiệu Hưng, nay là thị trấn Vạn Hà). Năm 1815, phủ Thiệu Thiên đổi tên thành phủ Thiệu Hóa.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, 3 thôn làng Vạn gọi là Trí Cẩn, Kiến Trung, Đông Dương đều thuộc tổng Mật Vật, phủ Thiệu Hóa.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, phủ Thiệu Hóa đổi thành huyện Thiệu Hóa, cấp tổng bị bãi bỏ, thành lập 12 xã mới, trong đó có xã Vãn Hà. Tháng 3-1953, 12 xã lớn của huyện Thiệu Hóa chia thành 30 xã và 1 thị trấn, xã Vãn Hà chia thành 3 xã là Thiệu Phúc, Thiệu Phú và Thiệu Hưng. Xã Thiệu Hưng có 3 thôn, gồm: Trí Cẩn, Kiến Hưng, Dương Hòa.

Ngày 5-7-1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa. 15 xã nằm trong vùng tả ngạn sông Chu sáp nhập vào huyện Yên Định, lập ra huyện mới mang tên Thiệu Yên. 16 xã còn lại ở hữu ngạn sông Chu sáp nhập vào Đông Sơn, lập ra huyện Đông Thiệu (năm 1982 đổi theo tên cũ là Đông Sơn).

Ngày 18-11-1996, huyện Thiệu Hóa được tái lập theo Nghị định số 72/CP của Chính phủ. Ngày 1-1-1997, địa giới và tổ chức hành chính trở lại như Thiệu Hóa của 20 năm trước đây. Huyện Thiệu Hóa có 30 xã và 1 thị trấn.

Ngày 30-10-2000, thị trấn Vạn Hà chính thức được thành lập theo Nghị định số 63/CP của Chính phủ, trở thành thị trấn huyện lỵ Thiệu Hóa, trên cơ sở toàn bộ diện tích, dân số xã Thiệu Hưng (gồm 545,02ha và 6.321 khẩu).

Vạn Hà là vùng quê có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, yêu nước và cách mạng. Nơi đây đã sản sinh ra những danh nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho đất nước như Tể tướng Nguyễn Quán Nho, một trong số 39 người có công lao tài đức trong 255 năm thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788), được nhân dân đương thời ca tụng "Tể tướng Vãn Hà thiên hạ âu ca". Trên địa bàn Thị trấn có 2 di tích lịch sử cấp Quốc gia là Đền thờ danh nhân Đinh Lễ và Đền thờ danh nhân Nguyễn Quán Nho, có 1 di tích lịch sử cấp tỉnh là Đền thờ danh nhân Nguyễn Quang Minh. Nhân dân Vạn Hà cần cù trong lao động, ham học hỏi, đoàn kết, năng động, sáng tạo, sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới.

Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi mở đất lập xóm cho đến nay, do phải đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, với giặc ngoại xâm đã hun đúc nên những đức tính tốt đẹp, sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần phong phú, góp phần tạo nên cốt cách của con người Vạn Hà.

Văn hóa tinh thần của người dân Vạn Hà rất phong phú. Người dân Vạn Hà luôn duy trì rất nhiều tục lệ tốt đẹp và lành mạnh như tục lập ra các hội đồng niên (nam giới), hội phường (nữ giới) gồm những trai gái trong làng cùng lứa tuổi, góp vốn, góp quỹ để kết giao, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, trong lao động sản xuất và trong sinh hoạt hàng ngày. Đó là những nét đẹp và truyền thống quý báu được các thế hệ người dân nơi đây dày công vun đắp. Yêu đất nước, nam nữ, yêu lao động, sản xuất… được thể hiện qua các thể loại như hò, vè, ca dao, tục ngữ, hát ghẹo, hát đúm, hát trống quân, cò lả, hát xẩm, hát xoan. Riêng hát ghẹo được tổ chức vào trung tuần tháng 8 (âm lịch). Tại đây trai tài, gái sắc tụ tập nhau bằng hội, bằng phường, hội đồng niên, tổ chức hát đối đáp bằng các làn điệu dân ca (chủ yếu là hát trống quân), hát mời, hát vào cuộc, hát giã từ. Cuộc vui được tổ chức thâu đêm suốt sáng, nhiều đôi trai gái nên vợ, nên chồng vào dịp này.

Ca dao, hò vè cũng có nhiều nội dung nhằm giới thiệu đặc điểm làng mình như: “lúa cây đa, cà Mệnh Mở, ở ngõ Cạy” hoặc câu thành ngữ: “rau muống Đông Dương, chấm tương Trí Cẩn”… Vè cũng nhằm chống các hủ tục lạc hậu, các thói hư tật xấu, chống phong kiến…

Ngoài các hình thức sinh hoạt văn hóa trên, một nét văn hóa dân gian nổi bật ở Vạn Hà là các câu đối. Câu đối được treo ở đình, chùa, nghè, phủ, đền thờ và các nhà thờ họ, trong 1 số gia đình để ghi nhận lịch sử vẻ vang, công trạng hoặc giáo dục con cháu về nề nếp gia phong…

Từ những phong tục tập quán tốt đẹp và nếp sống văn hóa lành mạnh, làng, xã Vạn Hà xưa đã được Lê Lợi trong 1 chuyến đi thị sát tình hình phong tặng mỹ hiệu “Vãn Hà phong tục mỹ”.

Sinh hoạt cộng đồng làng, xóm được coi trọng. Các kỳ lễ, trò diễn hàng năm được tổ chức vào các ngày âm lịch như: lễ thượng tiêu (30-12), lễ du xuân kỳ phúc (7-1), lễ lượn phướn Phật đản (8-4), vọng lão 70 (tháng 2), lễ rước bóng (16-1), diễn ra ở các phủ, lễ thượng thuyền (tháng 2), lễ hạ điền (tháng 6), thượng điền (tháng 7), lễ cầu mát, cầu mưa… Khi tham gia các kỳ lễ này, mọi người phải thành tâm, tự nguyện, không tổ chức xa hoa, linh đình, vào những ngày lễ, ngày hội hay việc xóm, người dân thường làm lễ tạ thần linh, tổ chức lễ hội vui chơi như: thi đấu cờ, đấu võ, hội vật, nấu cơm thi, hát chèo, hát bội, bình thơ, múa lân, đốt pháo bông…

Tôn giáo, tín ngưỡng và các công trình văn hóa: 100% người dân Vạn Hà theo tín ngưỡng Phật giáo và đạo thờ cúng tổ tiên (Vạn Hà không có đồng bào theo đạo Thiên Chúa). Việc mỗi làng đều có 1 ngôi chùa cổ đã phản ánh điều đó. Ngoài tục thờ cúng tại nhà, người dân Vạn Hà còn thờ cúng tại các nhà thờ của dòng họ mình để hướng về nguồn cội.

Bên cạnh đó, người dân Vạn Hà còn thờ cúng các vị thần, các anh hùng dân tộc... Các hình thức tín ngưỡng này thể hiện sự tri ân của người dân với những người có công với dân, với nước, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Văn hóa vật thể ở Vạn Hà cũng tương đối phong phú và đa dạng. Ở mỗi làng đều có đình, đình ở Vạn Hà thường được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Đình là nơi hội họp, sinh hoạt văn hóa, lễ hội hàng năm của dân làng và chức sắc. Sinh hoạt thường diễn ra vào các dịp 7-1 (âm lịch) lễ du xuân, kỳ phúc. Đình ở 3 làng đều thờ vọng Thần hoàng làng là Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ.

Nghè làng Kiến Trung thờ Linh Quang Đại Vương Cao Lỗ, dấu vết trùng tu cuối cùng của nghè là vào năm 1810. Nghè thôn Trí Cẩn, Dương Hòa thờ thủy thần Long Uyên Đại Vương. Ngoài đình, chùa, nghè, ở 3 làng còn có phủ thờ Đức Thánh trần và Thánh mẫu, miếu văn chỉ, miếu võ chỉ và 1 số điện thờ… Tuy nhiên, do chiến tranh và thời gian tàn phá nên các công trình kiến trúc văn hóa trên không còn nữa, chỉ còn lại trong tâm trí người dân, hoài niệm về các sinh hoạt dân gian truyền thống.

Tục lệ làng xã: Sau khi ổn định nơi sinh sống, do yêu cầu mở rộng đất canh tác, mở rộng sản xuất, phát triển mối quan hệ, tăng cường giao lưu… người dân các làng đặt ra quy ước, khoán ước để bảo vệ và điều chỉnh những mối quan hệ đó. Quy ước của các làng Vạn nhìn chung giống nhau nhưng do việc tổ chức làm ăn ở từng làng có những đặc trưng riêng nên quy ước làng cũng mang sắc thái đó. Những quy ước, tiết lệ chung đó được người dân thực hiện từ đời này sang đời khác, bổ sung, hoàn thiện qua từng thế hệ và trở thành lệ làng.

Lệ làng xem như pháp quy của một đơn vị dân cư, được xây dựng trên cơ sở nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Những người vi phạm lệ làng thường bị phạt rất nặng. Lệ làng quy định nam giới 18 tuổi thì được vào làng trai, hết tuổi làng trai được vào trùm làng (53 tuổi), rồi vào làng lão (55 tuổi). Nếu vi phạm lệ làng, nam giới không được vào trùm làng và vẫn phải chịu cảnh phục dịch như làng trai. Việc phân định ngôi thứ như vậy được quy định rất nghiêm ngặt vì các dịp lễ lạt, ngôi thứ quyết định vị trí ngồi sang - hèn cho mỗi người.

Lệ làng cũng quy định việc tang ma, cưới hỏi… Khi trong làng có người qua đời, trong vòng 3 ngày người làng không được tổ chức vui chơi ca hát. Làng cũng quy định việc thắp hương, nến, treo cờ đánh trống đến việc con cháu chịu tang, cách buộc khăn tang và thời gian mang tang cho từng thế hệ.

Trong năm (âm lịch), có các quy định kỳ tiết hội làng (từ 30 tháng Chạp năm trước đến hết tháng Chạp năm sau). Trong tháng Chạp, từ ngày mùng 10 có các kỳ lão, vọng lão 60. Riêng họ Lê, Chạp lễ vào ngày 14, Chạp làng, Chạp chạch vào ngày 20, tiễn ông bếp vào ngày 23 và lễ sắp ấn vào ngày 25.

Lệ làng là những quy chế do người làng đặt ra, không ghi bằng văn bản nhưng được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Lệ làng không chỉ thể hiện khi có việc làng, khi tế lễ mà còn đi vào cuộc sống, vào tiềm thức, vào tập quán của từng cụm dân cư, trở thành một nét đặc trưng của làng quê Việt Nam xưa.

Hàng năm, lệ làng còn quy định thời gian, mức độ tu bổ đường xá, cầu cống… Mọi người đi làm đều phải tự giác, không được thù lao, công xá. Việc tổ chức được tính toán cẩn thận, từng phần việc được chia căn cứ theo độ tuổi từ dưới lên. Người đậu khoa bảng, có trình độ học vấn được miễn làm việc nhưng phải lo việc tế lễ qua các kỳ lễ lạt của làng.

Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chúng tổ chức bộ máy chính quyền đến tận cơ sở làng xã. Tuy vậy, lệ làng vẫn được duy trì và buộc bộ máy chính quyền làng (ngũ hương) phải tuân theo.

Truyền thống học hành, khoa cử: Người Vạn Hà rất coi trọng việc học hành, truyền thống đó được thể hiện trong hương ước và tập quán của xóm để làm gương cho hậu thế noi theo. Điển hình ở Vạn Hà, có 3 người đỗ Tiến sỹ, đó là: Nguyễn Quang Minh (1628), Trịnh Cao Đệ (1650), ông Nguyễn Quán Nho (1667). Các ông đã được khắc tên ở văn bia Quốc Tử Giám (Hà Nội). Trong đó, nổi bật là ông Nguyễn Quán Nho1, học cao, hiểu rộng, làm quan đến chức Tể tướng, lại nổi tiếng thanh liêm, chính trực.

Cả huyện Thiệu Hóa chỉ có 1 trường Tiểu học Pháp - Việt, các môn học dạy bằng tiếng Pháp, riêng môn quốc văn dạy bằng tiếng Việt (rédaction annamite) là bằng tiếng Việt. Người học lớp nhất (rupirienre) cuối cùng ở 3 làng Vạn, khóa (1944-1945 và thi Primaire là các ông: Phùng Văn Sinh (Dương Hòa), Nguyễn Văn Tuệ, Hoàng Hữu Thành, Nguyễn Hữu Thận (Kiến Hưng).

Dưới chế độ mới, người học trò Vạn Hà chuyên cần học tập, lập được nhiều thành tích xuất sắc. Hàng năm trong xã đều có nhiều con em các gia đình đỗ đạt vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trên khắp mọi miền Tổ quốc. Theo số liệu điều tra, đến tháng 10-2017, Vạn Hà có 1.279 người đã tốt nghiệp hoặc đang học đại học, 89 thạc sĩ; 12 tiến sĩ; 02 phó giáo sư, tiến sĩ; Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới 01 người; Cấp hàm thượng, đại tá trong quân đội, công an 14 người.

Truyền thống phòng chống thiên tai, bảo vệ làng xã: bão lụt và hạn hán là mối nguy cơ đe dọa thường xuyên đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Từ xưa, nhân dân ta đã phải gắng sức chống chọi với thiên tai, lũ lụt để bảo vệ sản xuất, bảo vệ sự sống, sự bình yên của thôn làng. Truyền thuyết kể lại vào khoảng thời Lê Trịnh, xảy ra 1 trận lụt lớn làm vỡ đê ở phía đông làng Đông Dương tạo thành “bầu ấu”, “bầu chiêm”. Nhân dân phải đắp 1 đoạn đê quai dài 1km. Lúc bấy giờ, quan tể tướng Nguyễn Quán Nho đã tâu vua xin voi về dẫm đất đê quai. Từ việc này, trong dân gian đã lưu truyền câu ca:

Ai về Vãn Hà mà coi

Coi ông quan thượng mang voi làm đường

Năm Ất Dậu (năm 1945) đê làng Đông Dương lại bị vỡ, tạo thành “nổ bể”. Sau mỗi đợt vỡ đê, nhân dân chịu cảnh lũ lụt, mất nhà, mất cửa, tính mạng người dân bị đe dọa, nạn dịch bệnh xảy ra.

Không chỉ có lũ lụt, hạn hán cũng thường xuyên đe dọa đến cuộc sống dân làng. Để có mưa gieo mạ, cấy cày, dân làng phải nhờ đến thần linh, tổ chức hội “đảo vũ” để cầu mưa. Vào tháng 3, tháng 4, sau lễ cầu mát, cầu mưa mà trời vẫn nắng hạn thì hàng tổng, tri phủ lại tổ chức lễ rước kiệu, tế lễ ở nghè Vước, nghè 3 xã… đợt tế lễ có khi kéo dài hàng chục ngày trời, lễ đến khi nào có mưa mới thôi. Vì vậy, ở Vạn Hà, nhân dân lưu truyền câu ca dao:

Mồng tám tháng tư không mưa

Bỏ cả cày bừa mà vứt lúa đi

Truyền thống lao động, sản xuất: Từ xưa đến nay, người dân Vạn Hà sống chủ yếu bằng nông nghiệp với việc cấy trồng lúa nước, lúa bãi, trồng ra loại lúa thơm ngon có tiếng như gạo chậu, tám thơm, hiên, nếp cái hoa vàng. Trước đây, do hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện nên người dân chỉ cấy được 1 vụ (không ăn chắc). Ngày nay, do sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và thủy nông hoàn chỉnh nên người nông dân cấy được 2 vụ/năm, năng suất tăng cao. 90% dân số Vạn Hà sống bằng nghề này. Bên cạnh trồng cây lương thực, người dân Vạn Hà còn trồng thêm các loại rau màu như cà, dưa, củ đậu, trồng mía kéo mật… để dùng trong gia đình và cải thiện thu nhập.

Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, người dân Vạn Hà còn làm một số nghề phụ trong những lúc nông nhàn để kiếm thêm thu nhập như nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, ươm tơ kéo sợi… Dâu được trồng ở các bãi ven sông ở cả 3 làng. Bông được trồng trong khoảng thời gian từ tháng chạp đến tháng 4, tháng 5 (âm lịch), trên các cánh đồng màu, đất pha. Người dân thu hoạch bông để cung cấp cho nghề cán bông, cung bông kéo sợi, dệt vải tự túc. Diện tích trồng bông chiếm khoảng 10%. Nghề ươm tơ kéo sợi, dệt lụa, dệt vải thu hút khá đông phụ nữ tham gia (có thời kỳ hầu như nhà nào có con gái là có khung dệt, có xa kéo sợi). Thịnh hành nhất là vào những năm 1936-1944, thời gian này vải và lụa kẻ Vạn có tiếng trong vùng nên có câu ca:

Con ơi muốn nên thân người

Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha

Gái thì giữ việc trong nhà

Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa

Bên cạnh những nghề thuộc phái nữ này, nam giới Vạn Hà cũng làm thêm các nghề như nghề mộc, nghề nề, nghề giắng, nghề rèn, tiện, may, thuộc da bưng trống, sơn mài, đan mành trúc, đan thuyền…

Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm: Nhân dân Vạn Hà cũng như nhân dân các xã trong huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa vốn có truyền thống yêu quê hương, đất nước và đánh đuổi giặc ngoại xâm. Theo các thư tịch cổ và các truyền thuyết, các câu chuyện truyền miệng được biết: từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến cuộc khởi nghĩa chống lại sự bành trướng của các thế lực phong kiến phương Bắc dưới các triều đại Lý, Trần, Lê… nhân dân trong vùng luôn hưởng ứng và ủng hộ các cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc.

Trong những năm 1885-1886, phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp dấy lên mạnh mẽ ở Thanh Hóa, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Hùng Lĩnh, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Phương với căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng, cuộc khởi nghĩa của Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước ở miền núi…

Phong trào Cần Vương chống Pháp cũng được xây dựng ở Vạn Hà, trụ sở đặt tại đình Kiến Trung. Đó là các ông Lê Xuân Trơn, Lê Văn Lộc, Nguyễn Văn Khả, Lê Văn Thám, Trần Binh Vịnh (làng Trí Cẩn), Đào Văn Tấn, Nguyễn Quán Huệ (làng Dương Hòa). Trong đó, có người làm đội trưởng, có người làm đội viên giữ cờ…

Ngoài việc xây dựng căn cứ, người dân yêu nước Vạn Hà còn đi theo và ủng hộ nghĩa quân như các ông Lê Văn Vụ (làng Trí Cẩn), Lê Văn Hơn, Nguyễn Quân Khánh, Lê Văn Vược, Ngô Văn Lễ, Hoàng Văn Tốn, Lê Văn Lố, Nguyễn Văn Lược (Kiến Hưng), Đào Kiệm (Dương Hòa)…

Phong trào Cần Vương chống Pháp ở Thanh Hóa và Thiệu Hóa bị thất bại nhưng lòng yêu nước của nhân dân các làng Vạn Hà thì còn mãi, là tấm gương sáng cho thế hệ mai sau noi theo.

Sau khi ổn định bộ máy cai trị, thực dân Pháp tiến hành khai thác, bóc lột đất nước và nhân dân ta. Phủ lỵ đóng ngay trên đất Kiến Trung. Nhân dân Vạn Hà nói riêng cũng như nhân dân cả nước nói chung ngoài vòng áp bức của phong kiến vốn đã đè nặng lên đầu hàng thế kỷ, lại thêm tầng áp bức của tư bản thực dân Pháp.

Trong suốt chặng đường cách mạng 1930-1954, phong trào đấu tranh của nhân dân Vãn Hà trải qua rất nhiều khó khăn, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc. Từ lòng yêu nước nồng nàn, ngay từ rất sớm một số thanh niên xã Vãn Hà đã giác ngộ cách mạng, tìm đến ánh sáng của Đảng, tổ chức được Hội Việt Minh và bí mật hoạt động góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trong cả nước năm 1945. Năm 1947, Chi bộ Đảng xã Vãn Hà ra đời đã góp phần xây dựng Đảng trưởng thành, phát triển và lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trước những khó khăn, gian khổ ngày đầu kháng chiến và những mất mát hy sinh của đồng bào, Chi bộ Vãn Hà vẫn thể hiện rõ vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của mình, đưa nhân dân Vãn Hà tiến lên quét sạch giặc Pháp xâm lược, bảo vệ quê hương. Tuy nhiên, trong kháng chiến chống Pháp, Vãn Hà là nơi bị Pháp ném bom bắn phá thường xuyên các mục tiêu như bến phà, giao thông, chợ, trường học, bệnh viên… làm chết 91 người, bị thương 65 người, 108 nóc nhà bị phá hủy.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Vãn Hà đã cống hiến không tiếc sức người sức của cho kháng chiến chống thực dân Pháp. Đã có 100 người cán bộ thoát ly, 122 người tham gia dân quân du kích, 185 người tham gia dân quân tự vệ, 61 thanh niên tòng quân vào bộ đội, 5 người tham gia vào bộ đội địa phương và 3.538 lượt người đi dân công, vận chuyển được 1,388 tấn lương thực và 566.680kg hàng hóa, súng đạn, ủng hộ tiền: 1.470 đồng, vàng: 5,2 lạng, bạc: 21kg, đồng: 705kg, mua 76 công phiếu kháng chiến, mua 107 công trái quốc gia… góp phần xứng đáng vào chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) nói riêng và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung.

Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân Vãn Hà đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cùng Huân, Huy chương kháng chiến như: Cờ quyết thắng chiến dịch Đông - Xuân Điện Biên Phủ; Cờ luân lưu đơn vị khá nhất về thuế công - thương nghiệp; Cờ thi đua khá nhất làm công trình tiêu thủy Bàn Thạch; Cờ thi đua suất sắc khu vực đồng bằng về thành tích đóng góp tài chính cho kháng chiến.

Ngày 5- 8-1964, đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” nhằm phát động cuộc chiến tranh leo thang phá hoại ra miền Bắc bằng không quân và hải quân. Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần này, đế quốc Mỹ muốn ngăn chặn nguồn hàng tiếp tế từ bên ngoài vào miền Bắc, từ miền Bắc vào miền Nam, phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm lung lay ý chí chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc Việt Nam. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ”.

Từ đây, công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân miền Bắc nói chung, nhân dân Thiệu Hưng nói riêng phải chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống đế quốc Mỹ leo thang phá hoại, bảo vệ miền Bắc và chi viện cho miền Nam đánh giặc giữ nước.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc (những năm 1964-1968 và năm 1972), khi sự ác liệt đã đến điểm đỉnh, máy bay giặc Mỹ đã 54 lần đánh phá xã Thiệu Hưng, trút xuống mảnh đất nhỏ bé này nhiều bom đạn, gây thiệt hại về người và nhiều tài sản của nhân dân. Nhưng Đảng bộ xã vẫn luôn vững vàng tay lái, vừa lãnh đạo nhân dân chiến đấu ngoan cường dũng cảm, phối hợp cùng bộ đội chủ lực và các xã bạn đánh bại tất cả các trận không kích của địch, tổ chức tốt công tác phòng không sơ tán, bảo vệ vững chắc an toàn làng xã; vừa lãnh đạo nhân dân không ngừng đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống mọi mặt trong điều kiện thời chiến, góp phần tích cực xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Song song với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ xã Thiệu Hưng luôn ý thức được trách nhiệm lớn lao đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Vì thế, đã lãnh đạo nhân dân trong xã thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ đóng góp về sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Về lương thực, thực phẩm đã đóng góp 2.217 tấn thóc và 731 tấn thịt các loại. Về sức người, xã đã động viên được hơn 650 thanh niên nam nữ lên đường tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường. Trong đó, hơn 500 người là bộ đội, một bộ phận vào thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân quốc phòng. Có nhiều thanh niên khi nhập ngũ còn đang là học sinh ở các trường phổ thông, sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp. Riêng năm 1972, thực hiện chủ trương động viên cục bộ của Trung ương Đảng và Nhà nước, công tác tuyển quân diễn ra nhiều đợt, xã đã động viên được hơn 100 thanh niên nhập ngũ, vượt 45% quân số theo chỉ tiêu cấp trên giao. Một phẩm chất chung cao quý của lớp lớp thanh niên lên đường ra mặt trận thời bấy giờ là dù biết chiến tranh là gian khổ hy sinh, dù biết ra đi có thể sẽ không bao giờ trở về nhưng nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, họ đã hăng hái tình nguyện lên đường với một quyết tâm:

Ra đi nguyện một lời thề

Chưa thắng giặc Mỹ, chưa về quê hương

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã thắng lợi hoàn toàn, cả nước có hòa bình, độc lập, thống nhất và cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng bộ và nhân dân xã Thiệu Hưng hết sức tự hào vì đã có những đóng góp xứng đáng trong thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Song để có được thắng lợi ấy, 110 người con của Thiệu Hưng đã anh dũng hy sinh, 128 người đã để lại một phần xương máu tại các chiến trường. Có 1 gia đình cả 3 con trai là liệt sỹ. Một số gia đình có 2 con là liệt sỹ. Có những gia đình cả 4 anh em trai đều là bộ đội, cả 4 cha con đều trong quân ngũ... Tất cả đã góp phần tô thắm thêm truyền thống anh hùng của địa phương.

Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc, Vạn Hà có hàng nghìn lượt người tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, có 153 liệt sỹ, hàng trăm thương bệnh binh, 1.166 người được tặng huân, huy chương. Đảng bộ và nhân dân vinh dự được Nhà nước tặng thưởng.

- 01 Huân chương chiến công hạng nhì

- 654 Huân chương kháng chiến hạng nhất

- 91 Huân chương kháng chiến hạng hai

- 209 Huân chương kháng chiến hạng ba

- 04 Huân chương lao động hạng ba

- 102 Huy chương kháng chiến hạng nhất

- 57 Huy chương kháng chiến hạng nhì

- 25 Bằng khen của Hội đồng Nhà nước

- 370 Bằng khen của UBND Tỉnh

- 09 bà mẹ được phong tặng, truy tặng bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tiêu biểu như mẹ Tô Thị Đốm có 3 con trai đều đã hy sinh cho Tổ quốc.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân thị trấn Vạn Hà đã phát huy truyền thống cách mạng, tập trung phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, đồng thời luôn hoàn thành tốt các chỉ tiêu đóng góp cho Nhà nước. Thị trấn Vạn Hà vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân và tổ chức lễ đón nhận vào ngày 8 tháng 01 năm 2001.

-------------------------------------------------------

Lê Tuấn